Bản án về tranh chấp ly hôn số 86/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 86/2024/HNGĐ-ST NGÀY 05/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 234/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Hồng M, sinh năm 1975. Trú tại: Thôn T, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

2. Bị đơn: Ông Trần Văn B, sinh năm 1968. Trú tại: Thôn T, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 08/4/2024, bản tự khai và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn bà Vũ Thị Hồng M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Văn B cùng chung sống từ năm 2002, đến năm 2006 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai vào ngày 28/12/2006. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không có tổ chức lễ cưới, có thời gian tìm hiểu trong hơn 01 năm, vợ chồng cùng chung sống tại Thôn T, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc trong thời gian ngắn sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Ngay từ thời gian đầu vợ chồng cùng chung sống ông B luôn nghi ngờ ghen tuông, không có sự tôn trọng tin tưởng bà, nhiều lần chửi mắng xúc phạm nặng nề và đánh đập gây thương tích cho bà. Mọi việc trong gia đình đều do bà gánh vác, còn ông B ít có trách nhiệm đối với gia đình. Bà đã chịu đựng và cố gắng duy trì cuộc sống chung để nuôi dưỡng con. Trong quá trình bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông B không có thiện chí hòa giải, không có sự thay đổi vẫn chửi mắng, xúc phạm bà nên không khí gia đình căng thẳng, bà luôn sống trong trạng thái tinh thần lo sợ, tình cảm vợ chồng rạn nứt không hàn gắn được. Hiện nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có khả năng hòa giải đoàn tụ nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Trần Văn B.

Về con chung: Ông bà có 03 con chung tên Trần Ngọc Yến P, sinh ngày 02/02/2003; Trần Bích N, sinh ngày 05/3/2005 và Trần Mạnh D, sinh ngày 30/3/2012. Khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Mạnh D, sinh ngày 30/3/2012 cho đến ngày thành niên và không yêu cầu ông B cấp dưỡng. Đối với 02 con chung Trần Ngọc Yến P và Trần Bích N đã thành niên nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trần Văn B được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc và không giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án.

Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông B vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt và thông báo kết quả phiên họp cho ông B biết; do ông B vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán đã thực hiện việc tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không đến tham gia phiên tòa là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Vũ Thị Hồng M, xử cho bà M với ông B ly hôn; giao bà M nuôi con chung Trần Mạnh D cho đến ngày thành niên; ông B không phải cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” giữa nguyên đơn bà M với bị đơn ông B. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông B cùng chung sống năm 2002, đến năm 2006 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai theo quy định pháp luật. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc trong thời gian ngắn, phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn theo nguyên đơn trình bày do ông B ghen tuông, không có sự tôn trọng tin tưởng bà và nhiều lần chửi mắng xúc phạm nặng nề, đánh đập gây thương tích cho bà; mọi công việc trong gia đình đều do bà M gánh vác, ông B ít có trách nhiệm đối với gia đình; mâu thuẫn giữa vợ chồng trong thời gian dài, ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không hòa hợp. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà M với ông B đã trầm trọng, ông B không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà M và không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên hòa giải, phiên tòa xét xử thể hiện không có thiện chí hòa giải, hàn gắn quan hệ hôn nhân với bà M; vợ chồng chung sống nhưng không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của bà M về việc ly hôn với ông B.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 03 con chung Trần Ngọc Yến P, sinh ngày 02/02/2003; Trần Bích N, sinh ngày 05/3/2005 và Trần Mạnh D, sinh ngày 30/3/2012. Xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì trong quá trình vợ chồng chung sống, nguyên đơn là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung đảm bảo điều kiện phát triển mọi mặt về thể chất và tinh thần; cháu D có nguyện vọng được ở với mẹ. Để đảm bảo cho việc ổn định cuộc sống, phát triển bình thường về thể chất, tinh thần và phù hợp với nguyện vọng của con chung cần giao bà M trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Mạnh D cho đến ngày thành niên là phù hợp. Bà M không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với 02 con chung Trần Ngọc Yến P và Trần Bích N hiện nay đã thành niên, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà M với ông B không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Bà M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Vũ Thị Hồng M, xử cho bà Vũ Thị Hồng M với ông Trần Văn B ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung Trần Mạnh D, sinh ngày 30/3/2012 cho bà Vũ Thị Hồng M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến ngày thành niên. Ông Trần Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; quyền yêu cầu cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Buộc bà Vũ Thị Hồng M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo phiếu thu số 0003821 ngày 17/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Bà Vũ Thị Hồng M đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bà Vũ Thị Hồng M có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Trần Văn B vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

111
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 86/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:86/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Trọng - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về