TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG
BẢN ÁN 82/2024/HNGĐ-ST NGÀY 31/12/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
Ngày 31 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 197/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024; về tranh chấp: “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
97/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Ngọc H, sinh năm 1991. Địa chỉ: ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Hiện cư ngụ: số 186A, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện ngày 24/7/2024 nguyên đơn chị Ngô Thị Ngọc H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn N qua quen biết tìm hiểu nhau, được sự chấp thuận của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương; đăng ký kết hôn ngày 15/9/2011 tại UBND xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi cưới vợ chồng sống ở ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Không có con chung. Trong thời gian chung sống vợ chồng không tạo lập được tài sản chung nào; vợ chồng không thiếu nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc; tuy nhiên về sau vợ chồng thường hay phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến thường gây gổ với nhau. Vợ chồng đã nhiều lần cố gắng khuyên bảo lẫn nhau thay đổi để hàn gắn tình cảm nhưng đều không thành từ đó đời sống vợ chồng không có hạnh phúc; ly thân từ tháng 6/2024 cho đến nay, hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Nguyễn Văn N; Về con chung: không có, không yêu cầu giải quyết; Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị không còn yêu cầu nào khác.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/12/2024 bị đơn anh Nguyễn Văn N trình bày: Anh và chị Ngô Thị Ngọc H cưới nhau vào năm 2011. Hôn nhân do mai mối, sau đó được sự chấp thuận của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương; đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long ngày 15/9/2011. Sau khi cưới, vợ chồng về sống tại ấp H, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; hạnh phúc được khoảng 12 năm. Không có con chung. Trong thời gian chung sống, vợ chồng không tạo lập tài sản chung; không thiếu nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ. Vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ tháng 4/2024; bất đồng quan điểm trong cuộc sống, từ đó dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc, ly thân từ tháng 5/2024 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Theo yêu cầu khởi kiện của chị H, anh đồng ý ly hôn chị H; về con chung: không có, không yêu cầu giải quyết; về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra anh không còn yêu cầu nào khác.
- Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
+ Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 9, 51, 56, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Ngọc H; trong đó: Về quan hệ hôn nhân: chị Ngô Thị Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Văn N. Về con chung: không có. Về quan hệ tài sản: không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí buộc chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 00000xx ngày 05/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Tân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Chị Ngô Thị Ngọc H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn N, anh N có nơi cư trú thuộc huyện B nên tranh chấp và quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Chị Ngô Thị Ngọc H và anh Nguyễn Văn N yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Ngọc H và anh Nguyễn Văn N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở. Bởi lẽ quá trình chung sống anh chị bất đồng quan điểm với nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn hạnh phúc. Anh chị không còn sống chung từ tháng 6/2024 đến nay; từ lâu đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng phải thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh N, chị yêu cầu được ly hôn; anh N đồng ý ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được ly hôn anh N có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: không có, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.3] Về chia tài sản: Chị Ngô Thị Ngọc H và anh Nguyễn Văn N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Ngô Thị Ngọc H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 9, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Ngô Thị Ngọc H và anh Nguyễn Văn N.
2. Về con chung: không có, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về chia tài sản: Chị Ngô Thị Ngọc H và anh Nguyễn Văn N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Ngô Thị Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do chị H nộp theo biên lai thu số 0000090 ngày 05/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân. Vậy chị H đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Bản án về tranh chấp ly hôn số 82/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 82/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Bình Tân - Vĩnh Long |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 31/12/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về