TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
BẢN ÁN 74/2024/HNGĐ-ST NGÀY 13/03/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
Trong ngày 13 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 19/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 02/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Q, sinh năm 1981, Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Bị đơn: Anh Đinh Văn Ty sinh năm 1980, Vắng mặt.
Đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại: thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Đặng Thị Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và và anh Đinh Văn T lấy nhau tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện M, thành phố Hà Nội vào ngày 29/12/1999. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống cùng với bố chồng là ông Đinh Văn L và mẹ kế bà H, tại thôn Đ, xã A, huyện M, Hà Nội; sau đó một thời gian vợ chồng làm nhà ra ở riêng. Quá trình chung sống vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian, sau đó đến năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh T ngoại tình, bỏ bê vợ con; cụ thể vào năm 2023, anh T ngoại tình với người phụ nữ khác tại nhà nghỉ, chị và các con đến tận phòng bắt quả tang. Sau sự việc trên, anh T về nhà đã chửi bới và đánh chị, đồng thời chửi và đuổi các con. Vợ chồng chính thức sống ly thân mỗi người một nơi từ tháng 11 năm 2023. Nay vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm thực sự đã hết và sống ly thân mỗi người một nơi, không liên quan đến nhau nữa nên chị xin được ly hôn anh Đinh Văn T.
- Về con chung: Chị và anh Đinh Văn T có 03 con chung là Đinh Văn T1, sinh ngày 20/5/2000; Đinh Thị T2, sinh ngày 01/4/2002 và Đinh Thị H1, sinh ngày 15/12/2005, các con đều khoẻ mạnh, đã thành niên và tự lao động có thu nhập nên không đề nghị xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng đã tự thoả thuận xong nên không yêu cầu toà án giải quyết.
Anh Đinh Văn T toà án triệu tập nhưng không đến toà án làm việc và không cung cấp bản tự khai:
Toà án tiến hành lấy lời khai của ông Đinh Văn L là bố đẻ và sinh sống cùng anh Đinh Văn T trình bày: ông là bố đẻ của anh Đinh Văn T và là bố chồng của chị Đặng Thị Q. Anh T và chị Q tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn ngày 29/12/1999 tại UBND xã A. Sau khi kết hôn vợ chồng anh T và chi Q chung sống cùng gia đình và lao động tự do. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc hoà thuận đến khoảng năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo ông được biết là do vợ chồng bất đồng trong việc phát triển kinh tế gia đình, vợ chồng không tin tưởng nhau về kinh tế, tiền bạc, thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Gia đình đã khuyên giải và động viên nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị Q xin ly hôn quan điểm của ông và anh T vẫn muốn vợ chồng về đoàn tụ; còn trường hợp chị Q vẫn kiên quyết ly hôn thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, về con chung: vợ chồng anh chị có 03 con chung là Đinh Văn T1, sinh ngày 20/5/2000; Đinh Thị T2, sinh ngày 01/4/2002 và Đinh Thị H1, sinh ngày 15/12/2005. Các cháu đều đã trên 18 tuổi, khoẻ mạnh và tự lập nên ông và anh T không có yêu cầu toà án giải quyết. Về tài sản chung, công sức và nợ chung: theo ông được biết thì anh T và chị Q đã tự thống nhất thoả thuận xong, anh T có trao đối với ông là không yêu cầu cầu toà án giải quyết vấn đề này.
Các con của chị Q và anh T là Đinh Văn T1, sinh ngày 20/5/2000; Đinh Thị T2, sinh ngày 01/4/2002 và Đinh Thị H1, sinh ngày 15/12/2005 đều có bản tự khai xác định mâu thuẫn của bố mẹ là do bố ngoại tình. Quá trình chung sống với bố mẹ, bố mẹ đã phân chia tài sản xong, không liên quan gì đến tài sản và công sức đóng góp nên không có ý kiến gì, đề nghị toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Q vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt do chị ở xa đi lại khó khăn và vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh T, bị đơn anh T vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Q đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh T không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và vắng mặt tại phiên toà đến lần thứ 2.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình 2014: Chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Q và anh Đinh Văn T xử cho chị Đặng Thị Q được ly hôn anh Đinh Văn T.
- Về con chung đề nghị: Vợ chồng chị Q và anh T có ba con chung đều đã thành niên và khoẻ mạnh nên đề nghị không xem xét giải quyết việc chăm sóc và nuôi dưỡng.
- Tài sản chung và nợ chung: do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: chị Đặng Thị Q phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Đặng Thị Q khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh Đinh Văn T nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo quy định khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Đinh Văn T có hộ khẩu tại: thôn Đ, xã A, huyện M, Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức theo quy định điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Đặng Thị Q có bản tự khai và tham gia phiên toà mở ngày 05/3/2024 nhưng do anh T vắng mặt nên toà án hoãn phiên toà. Toà án mở lại phiên toà chị có đơn đề nghị toà án xét xử cho chị xin được vắng mặt; vì hiện nay chị đi làm xa nên đi lại khó khăn, chị đề nghị toà án xét xử cho chị được ly hôn anh T. Nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, để chấp nhận đề nghị xét xử vắng mặt của nguyên đơn chị Q.
Bị đơn anh Đinh Văn T đã được toà án triệu tập và tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà đến lần thứ hai không có lý do. Nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, để xét xử vắng mặt đối với bị đơn Đinh Văn T.
Về nội dung:
[1]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đặng Thị Q và anh Đinh Văn T được xây dựng trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện M, thành phố Hà Nội vào ngày 29/12/1999 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 đến nay, mỗi người một nơi, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đinh Văn T được toà án triệu tập và gửi văn bản tố tụng đến ông Đinh Văn L là bố đẻ, sinh sống cùng anh T nhưng anh không đến toà án. Ông L trình bày anh T có quan điểm để ông trình bày lại với Toà án, trường hợp chị Q cương quyết ly hôn thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Xét thấy, các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị Q và anh T đã bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay sống ly thân mỗi người một nơi. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Q và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] . Về con chung: Chị Đặng Thị Q và anh Đinh Văn T có 03 con chung là Đinh Văn T1, sinh ngày 20/5/2000; Đinh Thị T2, sinh ngày 01/4/2002 và Đinh Thị Hl, sinh ngày 15/12/2005, đều khoẻ mạnh, đã thành niên nên không xem xét giải quyết về vấn đề chăm sóc và nuôi dưỡng.
[3]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không đề nghị giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí: Nguyên đơn chị Q phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Q đối với anh Đinh Văn T.
Xử chị Đặng Thị Q được ly hôn anh Đinh Văn T.
2. Về con chung: Xác nhận chị Đặng Thị Q và anh Đinh Văn T có 03 con chung là Đinh Văn T1, sinh ngày 20/5/2000; Đinh Thị T2, sinh ngày 01/4/2002 và Đinh Thị H1, sinh ngày 15/12/2005, đều khoẻ mạnh và đã thành niên nên không xem xét việc chăm sóc và nuôi dưỡng.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Đặng Thị Q phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007671 ngày 16/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Đặng Thị Q và bị đơn anh Đinh Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Bản án về tranh chấp ly hôn số 74/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 74/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Đức - Hà Nội |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 13/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về