Bản án về tranh chấp ly hôn số 73/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 73/2024/HNGĐ-ST NGÀY 05/03/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 05 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 334/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 474/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phạm Hoàng L, sinh năm 1985 Thường trú: A P, Phường C, quận P, Tp ..

Bị đơn: Bà Doan Mong N (Mong Hoai D), sinh năm 1982 Thẻ thường trú số 074-513-862, Hoa Kỳ cấp ngày 15/3/1997 Địa chỉ: B N, New Smyrna B, FL C, USA.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện ngày 10 tháng 10 năm 2023 và lời khai của nguyên đơn - ông Phạm Hoàng L thì: Ông và bị đơn kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 117/2028 do Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/11/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 12/2018, vợ chồng đã ly thân, bị đơn về lại Mỹ. Nhận thấy thời gian xa cách đã lâu, tình cảm không còn, không thể kéo dài cuộc hôn nhân này nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Ông.

Tại Bản tự khai; Đơn xin vắng mặt và Giấy ủy quyền có nội dung chứng nhận ngày 04/01/2024 của T tại S, H.C.Q H, D1 (Mong Hoai D) trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông L về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Bà đồng ý ly hôn với ông Phạm Hoàng L. Đồng thời đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thu ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Ông Phạm Hoàng L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Doan Mong N (Mong Hoai D), bà Doan Mong N (Mong Hoai D) hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn - ông Phạm Hoàng L và bị đơn - bà Doan Mong N (Mong Hoai D) có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải và xét xử vắng mặt, nên căn cứ Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Hoàng L và bà Doan Mong N (Mong Hoai D).

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Về hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 117/2028 do Ủy ban nhân dân quận p, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/11/2018 thì giữa ông Phạm Hoàng L và bà Doan Mong N (M) là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo trình bày thống nhất của ông Phạm Hoàng L và bà Doan Mong N (Mong Hoai D) thì trong thời kỳ hôn nhân, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về quan điểm sống, tính cách. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên giữa ông Phạm Hoàng L và bà Doan Mong N (Mong Hoai D) thuận tình ly hôn. Xét cả hai hiện có khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng càng phai nhạt, đây là căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa hai người không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

Về con chung: Không có Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do ông Phạm Hoàng L khởi kiện yêu cầu ly hôn nên ông Phạm Hoàng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 37; Điều 38; Khoản 4 Điều 147; Khoản 4 Điều 207; Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1, Khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 19 và Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ vào Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hoàng L.

Về hôn nhân: Ông Phạm Hoàng L được ly hôn bà Doan Mong N (M).

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Phạm Hoàng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0001066 ngày 01 tháng 12 năm 2023 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Phạm Hoàng L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn - Ông Phạm Hoàng L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án; bị đơn - bà Doan Mong N (Mong Hoai D) được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

87
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 73/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:73/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Tân Bình - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về