Bản án về tranh chấp ly hôn số 67/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN - TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 67/2024/HNGĐ-ST NGÀY 13/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Long Điền, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/3/2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Cẩm H, sinh năm: 1991; Nghề nghiệp: Công nhân; Địa chỉ thường trú: Q35, tổ D. ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Chỗ ở: Tổ D, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Phạm Quế V, sinh năm: 1985; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ thường trú: Q35, tổ D. ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại tòa án, bà Lê Thị Cẩm H có yêu cầu như sau:

Bà Lê Thị Cẩm H và ông Phạm Quế V tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn. Bà Lê Thị Cẩm H và ông Phạm Quế V chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do giữa bà H và ông V bất đồng ý kiến, cãi vả nhiều lần. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, bà H và ông V đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay.

Hiện nay bà H đang làm công nhân tại Công ty S (Tại thành phố V, lương 9 triệu đồng một tháng, ông V làm nghề lao động tự do (Đi biển, nuôi H1), thu nhập mỗi tháng khoảng 10 triệu đồng.

Nay bà Lê Thị Cẩm H có yêu cầu ly hôn đối với ông Phạm Quế V. - Về con: bà Lê Thị Cẩm H và ông Phạm Quế V có hai người con chung là: Phạm Lê Hoàng N, sinh ngày 13/12/2016 và Phạm Lê Hoàng V1, sinh ngày 03/9/2018; Bà Lê Thị Cẩm H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà H được nuôi hai con, bà H yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 2.000.000 đồng đối với một người con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Cẩm H không tranh chấp về tài sản chung và nợ chung với ông Phạm Quế V. * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền phát biểu ý kiến:

Về thủ tục xét xử vụ án: Bà Lê Thị Cẩm H tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, ông Phạm Quế V không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt hai lần không có lý do, đề nghị TAND huyện Long Điền xét xử vắng mặt ông V. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị TAND huyện Long Điền chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Cẩm H, giao các con là Phạm Lê Hoàng N và Phạm Lê Hoàng V1 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, bà H yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 2.000.000 đồng đối với mỗi người con là phù hợp, đề nghị toà án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Long Điền .

Về thủ tục xét xử vụ án: TAND huyện Long Điền đã triệu tập hợp lệ, bà Lê Thị Cẩm H có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Phạm Quế V vắng mặt hai lần không có lý do (Vắng mặt tại phiên tòa ngày 27/8/2024 và tại phiên tòa hôm nay). Theo quy định tại điều 227 bộ luật tố tụng dân sự, TAND huyện Long Điền xét xử vắng mặt ông Phạm Quế V. [2] Về nội dung vụ án, xét thấy:

Bà Lê Thị Cẩm H và ông Phạm Quế V tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn.

Bà Lê Thị Cẩm H và ông Phạm Quế V chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẩn do bà H và ông V bất đồng ý kiến, có nhiều lần cãi vã. Từ những mâu thuẫn kể trên, theo bà Lê Thị Cẩm H thì vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 đến nay.

Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Lê Thị Cẩm H và ông Phạm Quế V là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Cẩm H. Về con chung:

Bà Lê Thị Cẩm H và ông Phạm Quế V có hai người con chung là: Phạm Lê Hoàng N, sinh ngày 13/12/2016 và Phạm Lê Hoàng V1, sinh ngày 03/9/2018;

Qua lời trình bày của đương sự và kết quả xác minh cho thấy: Sau khi bà H, ông V ly thân thì các em Phạm Lê Hoàng N và Phạm Lê Hoàng V1 được bà H nuôi dưỡng, nên giao các con cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp thực tế, đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con. Bà H yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 2.000.000 đồng cho mỗi người con là phù hợp với điều kiện kinh tế của ông V, nên được chấp nhận.

Về tài sản chung: bà Lê Thị Cẩm H và ông Phạm Quế V không có tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên không xét đến.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84, điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình, điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án:

1/- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Cẩm H; Bà Lê Thị Cẩm H được ly hôn đối với ông Phạm Quế V.

2/- Về con chung:

Giao cho bà Lê Thị Cẩm H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chưa thành niên là: Phạm Lê Hoàng N, sinh ngày 13/12/2016 và Phạm Lê Hoàng V1, sinh ngày 03/9/2018;

Ông Phạm Quế V phải cấp dưỡng nuôi con đối với em Phạm Lê Hoàng N từ tháng 10 năm 2024 đến khi em N đủ 18 tuổi, mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Tiền cấp dưỡng được giao cho bà H; Ông Phạm Quế V phải cấp dưỡng nuôi con đối với em Phạm Lê Hoàng V1 từ tháng 10 năm 2024 đến khi em V1 đủ 18 tuổi, mức cấp dưỡng mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Tiền cấp dưỡng được giao cho bà H; Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết, bà Lê Thị Cẩm H và ông Phạm Quế V có thể yêu cầu Tòa án giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3/- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Cẩm H và ông Phạm Quế V không có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung.

4/- Về án phí:

- Bà Lê Thị Cẩm H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004428 ngày 28/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền; Bà Lê Thị Cẩm H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông Phạm Quế V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5/- Kể từ ngày người được thi hành có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành còn phải trả cho người được thi hành một khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành theo lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6/- Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

131
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 67/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:67/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Điền - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:13/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về