TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG
BẢN ÁN 56/2024/HNGĐ-ST NGÀY 04/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 65/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/8/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H - sinh năm 1987 (có mặt) Địa chỉ: số nhà 54 T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T - sinh năm 1987 Địa chỉ: ấp Đông Lộc, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt lần 2 không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:
Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Văn T tự tìm hiểu quen biết nhau khoảng 01 năm, sau đó chung sống với nhau vào năm 2022, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang ngày 18/4/2022.
Lý do xin ly hôn: Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chị H cho rằng là do anh T quá gia trưởng, có tính vũ phu, hay đi ăn nhậu rồi về kiếm chuyện chửi bới thường xuyên đánh đập chị H , trong cuộc sống không có trách nhiệm với gia đình, từ đó dẫn đến vợ chồng thường hay cự cãi, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, tiếp tục chung sống với nhau không hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa chị H yêu cầu:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H yêu cầu được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết.
* Tòa án có triệu tập anh Nguyễn Văn T để hòa giải hôn nhân và gia đình, nhưng anh Nguyễn Văn T vắng mặt, nên Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng hợp lệ.
* Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị H .
- Về quan hệ con chung: Chị H trình bày không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng anh T vắng mặt. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T.
Xét thấy, anh T chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H tại Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ các thủ tục theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh T vẫn không đến Tòa án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T chung sống với nhau được UBND xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 53, ngày 18/4/2022, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị H là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, vợ chồng anh chị chung sống với nhau đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Chị H cho rằng do anh T có tính quá gia trưởng và vũ phu, hay đi ăn nhậu rồi về kiếm chuyện chửi bới thường xuyên đánh đập chị H , trong cuộc sống anh T không có trách nhiệm với gia đình, từ đó dẫn đến vợ chồng hay cự cãi, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt.
Tại phiên tòa, chị H thể hiện rõ quan điểm muốn ly hôn, không muốn đoàn tụ. Mặt khác, chị H và anh T hai bên đã ly thân với nhau từ đầu năm 2023 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, trong phần nghị án Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H được ly hôn với anh T.
[3] Về quan hệ con chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về tài sản, nữ trang chung, nợ chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Trường hợp anh T cho rằng có tài sản chung và có tranh chấp, sẽ khởi kiện thành một vụ kiện khác và sẽ được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị H phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T .
2. Về quan hệ con chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về quan hệ tài sản, nữ trang chung, nợ chung: Chị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Vũ Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003782 ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T , tỉnh Kiên Giang.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ./.
Bản án về tranh chấp ly hôn số 56/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 56/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tân Hiệp - Kiên Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 04/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về