TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐH - TỈNH BẠC LIÊU
BẢN ÁN 50/2025/HNGĐ-ST NGÀY 21/04/2025 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
Ngày 21 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 39/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: Chị Quách Kiều M, sinh năm 1991
Địa chỉ: ấp Quyết T, xã An Tr A, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu
2/. Bị đơn: Anh Huỳnh Công N, sinh năm 1990
Địa chỉ: ấp Quyết Thắng, xã An Trạch A, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu. (Chị M có đơn xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 03/02/2025, lời khai trong quá trình tố tụng, chị Quách Kiều M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Huỳnh Công N chung sống với nhau vào năm 2016, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Tr A và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Nguyên nhân ly hôn: Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống, hiện nay vẫn sống chung nhà nhưng không có tiếng nói chung, không còn quan tâm nhau cũng không tìm được biện pháp hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Nay chị xác định vợ chồng không còn khả năng hàn gắn cũng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Công N.
Về con chung: Chị M xác định anh chị có 01 người con chung tên Huỳnh Phú Th, sinh ngày 29/4/2017, hiện nay đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con.
Về cấp dưỡng: Không đặt ra.
Về tài sản chung: Chị M xác định anh chị tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị M xác định anh chị không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Chị M và anh N kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng trong thời gian chung sống anh chị bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống không còn hạnh phúc, chị M xác định không thể tiếp tục chung sống với anh N nên yêu cầu ly hôn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị M được ly hôn với anh N là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị Mỹ xác định anh chị có 01 người con chung tên Huỳnh Phú Th, sinh ngày 29/4/2017, hiện nay đang sống chung với chị M. Khi ly hôn chị M yêu cầu được nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Chị M xác định anh chị tự thỏa thuận nên không đặt ra
xem xét.
Về nợ chung: Chị M xác định anh chị không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình chị M phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1]Về thủ tục tố tụng: Chị Quách Kiều M có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Huỳnh Công N. Anh N có địa chỉ cư trú tại huyện Đ H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.
Chị M có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]Về nội dung vụ án: Chị M và anh N chung sống với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân UBND xã An Tr A cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh N có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống hiến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị M xác định vợ chồng vẫn sống chung nhà nhưng không có tiếng nói chung, không quan tâm nhau cũng không tìm được biện pháp hàn gắn. Như vậy mâu thuẫn hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M đối với a N là hoàn toàn phù hợp.
Về con chung: Chị M xác định anh chị có 01 người con chung tên Huỳnh Phú Th, sinh ngày 29/4/2017, hiện nay đang sống chung với chị M, khi ly hôn chị M yêu cầu được nuôi con nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao con cho chị M nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị M không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị M xác định anh chị tự thỏa thuận nên không đặt ra
xem xét.
Về nợ chung: Chị M xác định anh chị không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[3]Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị M phải chịu theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quách Kiều M
M. Xử cho chị Quách Kiều M được ly hôn với anh Huỳnh Công N.
2/.Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Phú Th, sinh ngày 29/4/2017 cho chị Quách Kiều M nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét.
Anh Huỳnh Công N có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung mà không ai được quyền cản trở.
3/. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. 4/. Về nợ chung: Không có
5/. Về án phí: Chị Quách Kiều M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010995 ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ H.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Quách Kiều M và anh anh Huỳnh Công N được biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Bản án về tranh chấp ly hôn số 50/2025/HNGĐ-ST ngày 21/04/2025
| Số hiệu: | 50/2025/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Đông Hải - Bạc Liêu |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 21/04/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về