Bản án về tranh chấp ly hôn số 460/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 460/2024/HNGĐ-ST NGÀY 04/11/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 04 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 597/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 459/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Tuyết M, sinh năm 1988 (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn Ơ, sinh năm 1980 (xin vắng mặt). Cùng địa chỉ cư trú: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện ngày 10/9/2024, biên bản hòa giải ngày 25/10/2024 nguyên đơn chị Ngô Tuyết M trình bày: Về hôn nhân: Chị và anh Đỗ Văn Ơ chung sống với nhau từ năm 2005, hôn nhân tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong thời gian chung sống vợ chồng lúc đầu sống hạnh phúc. Thời gian về sau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải với nhau. Chị và anh Ơ đã sống ly thân hơn 01 năm. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay ông yêu cầu được ly hôn với anh Ơ.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh Ơ có 03 người con tên Đỗ Đan N, sinh ngày 01/01/2006, Đỗ Hoàng T, sinh ngày 27/4/2007 và Đỗ Thị Thúy Â, sinh ngày 19/10/2014. Khi ly hôn chị yêu cầu xem xét nguyện vọng của con. Đối với N đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; -Về nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản hòa giải ngày 25/10/2024, bị đơn anh Đỗ Văn Ơ trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị M sống chung với nhau năm 2005 nhưng không có đăng ký kết hôn đúng như chị M trình bày. Về mâu thuẫn dẫn đến ly hôn là do chị M có quan hệ với người đàn ông khác. Anh và chị M đã sống ly thân hơn 01 năm nay. Anh xác định hôn nhân không thể hàn gắng được nên đồng ý ly hôn với chị M - Về con chung: Có 03 người con tên Đỗ Đan N, sinh ngày 01/01/2006, Đỗ Hoàng T, sinh ngày 27/4/2007 và Đỗ Thị Thúy Â, sinh ngày 19/10/2014 đúng như chị M trình bày: Khi ly hôn anh đồng ý nuôi dưỡng các con Thoại và Â;

- Về tài sản chung và nợ: Thống nhất như trình bày của chị M không yêu cầu tòa án giải quyết.

Do điều kiện các bên đương sự đi làm xa, việc đi lại khó khăn nên các đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Đỗ Văn Ơ có nơi cư trú tại ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Ngô Tuyết M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Đỗ Văn Ơ, tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, nuôi con chung" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chị M là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự chị M là nguyên đơn, anh Ơ là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị M và anh Ơ xin vắng mặt. Căn cứ theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Tuyết M và anh Đỗ Văn Ơ xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 2005. Tuy có đủ điều kiện kết hôn nhưng chị và anh không đăng ký kết hôn theo luật định. Chị M và anh Ơ không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, chị và anh đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh đã sống ly thân hơn 01 năm nay.

Xét, mâu thuẫn giữa chị M và anh Ơ là thực tế có xảy ra; đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ chồng phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp.

[3] Về con chung: chị Măng và anh Ơn có 03 người con chung tên Đỗ Đan N, sinh ngày 01/01/2006, Đỗ Hoàng T, sinh ngày 27/4/2007 và Đỗ Thị Thúy Â, sinh ngày 19/10/2014. Khi ly hôn đối với Đan N đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với các cháu T và Â. Khi ly hôn chị yêu cầu xem xét nguyện vọng của các con.

Xét, con chung tên Đỗ Hoàng T và Đỗ Thị Thúy Â. Hiện nay các cháu đang sống cùng với anh Ơ, từ khi chị và anh Ơ sống ly thân đến nay các cháu sống cùng với anh Ơ, gần gũi với anh, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao các cháu Đỗ Hoàng T và Đỗ Thị Thúy  cho anh Đỗ Văn Ơ được trực tiếp nuôi dưỡng (Phù hợp với nguyện vọng của cháu  tại biên bản ghi ý kiến ngày 25/10/2024). Chị M không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

[4] Về cấp dưỡng: Chị M, anh Ơ không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự xác định tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị M phải chịu tiền án phí sơ thẩm về hôn nhân.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 và khoản 3 Điều 68; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận Chị Ngô Tuyết M và anh Đỗ Văn Ơ là vợ chồng.

- Về con chung: Tiếp tục giao các cháu Đỗ Hoàng T, sinh ngày 27/4/2007 (Giới tính: Nam) và Đỗ Thị Thúy Â, sinh ngày 19/10/2014 (Giới tính: Nữ) cho anh Đỗ Văn Ơ trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Ngô Tuyết M không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

2. Về án phí: Chị Ngô Tuyết M phải nộp số tiền 300.000 đồng; Ngày 08/10/2024 chị M đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005xxxtại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

59
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 460/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:460/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:04/11/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về