TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
BẢN ÁN 35/2024/HNGĐ-ST NGÀY 22/07/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
Ngày 22 tháng 07 năm 2024, Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số 17/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1988
Bị đơn: Anh La Văn N, sinh năm 1990 Nơi thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Chị D có mặt, anh N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị D trình bày:
Chị và anh La Văn N kết hôn ngày 29/12/2011 có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Khi kết hôn hai bên đều tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi. Sau khi cưới chị và anh N sinh sống tại tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Anh chị ở riêng ngay sau khi cưới. Những năm đầu chị D ở nhà chăm con còn anh N làm công việc tự do, cuộc sống vợ chồng hòa thuận không có mâu thuẫn gì lớn. Đến năm 2017, chị bắt đầu đi làm công ty tại thành phố P, anh N không cùng chị chia sẻ, gánh vác kinh tế gia đình lại thường xuyên uống rượu, nhiều lần anh N say rượu rồi đánh chửi chị. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ đó và diễn ra ngày càng trầm trọng. Hiện tại, anh chị vẫn đang sống chung nhà nhưng mọi sinh hoạt đều riêng biệt, không ai quan tâm đến ai do không tìm được tiếng nói chung. Khoảng 2-3 tháng gần đây, anh H đi làm ăn ở đâu không rõ, thỉnh thoảng mới về nhà nhưng vợ chồng cũng không nói chuyện với nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh N nên xin được ly hôn.
Về con chung: Chị và anh N có ba con chung là La Khánh H1, sinh ngày 27/01/2012, La Thị Uyển N1, sinh ngày 06/07/2016 và La Phương N2, sinh ngày 18/07/2020. Hiện nay, các con đang sinh sống cùng chị và anh N tại tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện P. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung, chị không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn là anh La Văn N trình bày: Anh và chị D kết hôn ngày 29/12/2011 đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi cưới, anh và chị D sinh sống tại tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là chị D đi làm công ty tại thành phố P, anh phát hiện chị D có quan hệ tình cảm với người khác do bắt gặp được tin nhắn của chị D với người đó. Đã nhiều lần anh cho chị D cơ hội, khuyên nhủ chị từ bỏ mối quan hệ đó để tập trung cho gia đình nhưng chị không thay đổi. Vợ chồng vì thế xảy ra nhiều mâu thuẫn cãi vã nhưng chưa đến mức xô xát, đánh chút nhau. Hiện nay, anh và chị D vẫn đang sống chung nhà nhưng mọi sinh hoạt đều riêng biệt, không liên quan gì đến nhau, không ai quan tâm ai. Anh xác định cuộc hôn nhân giữa anh và chị D đã không còn hạnh phúc nên đồng ý ly hôn với chị D.
Về con chung: Anh và chị D có ba con chung là La Khánh H1, sinh ngày 27/01/2012, La Thị Uyển N1, sinh ngày 06/07/2016 và La Phương N2, sinh ngày 18/07/2020. Hiện nay, các con đang sinh sống cùng anh và chị D tại tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Khi ly hôn, anh nhất trí giao ba con chung cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con anh và chị D sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh N để anh N thực hiện quyền tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng anh N đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, không có vi phạm gì. Về nội dung và phương án giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị D được ly hôn với anh N, giao 3 con chung là La Khánh H1, sinh ngày 27/01/2012, La Thị Uyển N1, sinh ngày 06/07/2016 và La Phương N2, sinh ngày 18/07/2020 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí: Cần buộc chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị D và bị đơn là anh La Văn N. Bị đơn cư trú (đăng ký thường trú) tại tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình giải quyết, anh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh La Văn N theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án.
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 125 ngày 29/12/2011 của UBND xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử xét thấy chị D và anh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, việc đăng ký kết hôn đã được thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy: Sau khi cưới chị D và anh N sinh sống tại tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Sau một thời gian chung sống, cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh N mài rượu chè không cùng chị D đóng góp kinh tế gia đình, anh N nghi ngờ chị D lại có mối quan hệ tình cảm với người khác. Hiện nay, anh chị vẫn sinh sống chung nhà nhưng một hoạt động sinh hoạt đều riêng biệt, việc ai người nấy làm không ai quan tâm đến ai.
Hội đồng xét xử đánh giá thấy có cơ sở xác định cuộc hôn nhân giữa chị D và anh N đã không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh N cũng đồng ý ly hôn với chị D. Vì vậy cần áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D.
[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị D và anh N có ba con chung là La Khánh H1, sinh ngày 27/01/2012, La Thị Uyển N1, sinh ngày 06/07/2016 và La Phương N2, sinh ngày 18/07/2020. Hiện nay, các con đang sinh sống cùng anh chị tại tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện P. Quá trình giải quyết, chị D có nguyện vọng được nuôi cả ba con chung, anh N cũng nhất trí giao ba con chung cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Xét nguyện vọng của hai cháu H1 và N1 đều mong muốn được ở với mẹ, cháu N2 mới 4 tuổi do đó cần giao cả 3 con chung cho chị D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh N và chị D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn, anh N có quyền và có nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai có quyền cản trở.
[2.3] Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
[2.4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 28, 147, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh La Văn N.
2. Về con chung: Giao con chung là La Khánh H1, sinh ngày 27/01/2012, La Thị Uyển N1, sinh ngày 06/07/2016 và La Phương N2, sinh ngày 18/07/2020 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Anh La Văn N có quyền và có nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai có quyền cản trở.
Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
3. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước (được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai số 0004512 ngày 21/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên).
Báo cho chị D biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh N biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Bản án về tranh chấp ly hôn số 35/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 35/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 22/07/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về