Bản án về tranh chấp ly hôn số 307/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 307/2024/HNGĐ-ST NGÀY 25/06/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 124/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 742/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 896/2024/QĐST- HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1989 (Có mặt) Địa chỉ: Lô B– Chung cư P, Ấp 3, xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Phan Ngọc T, sinh năm 1985 (Vắng mặt) Địa chỉ: 550/1 Huỳnh Tấn Phát, Ấp 3, xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè,Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bà Phạm Thị D là nguyên đơn trình bày:

Bà Phạm Thị D và ông Phan Ngọc T tự nguyện kết hôn năm 2018. Hai bên có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 92 do Ủy ban nhân dân xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/7/2018.

Khi kết hôn bà D và ông T cùng sinh sống tại nhà cha mẹ ruột của ông T ở địa chỉ 550/1 Huỳnh Tấn Phát, Ấp 3, xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà chung sống cũng hạnh phúc nhưng kể từ đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do ông Phan Ngọc T phụ thuộc cha mẹ ruột, thiếu trách nhiệm với vợ con. Cụ thể là ông Phan Ngọc T vay nợ nhiều người để tiêu xài cá nhân, không có khả năng trả nợ nên bà D phải nhiều lần trả nợ thay cho ông T. Ông T không đi làm kiếm tiền phụ bà D lo cho các con, để mặc mình bà D lo cho con ăn học và trả nợ. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống trầm trọng. Từ đầu năm 2023, bà D đã dẫn các con chuyển ra ở riêng. Hiện nay, bà D đang mang thai đứa con thứ 3 ở tháng thứ 9 tuy nhiên ông T cũng không quan tâm chăm sóc đến gia đình, vợ con. Bà Phạm Thị D xác định tình cảm vợ chồng đã không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà D và ông T có 02 con là trẻ Phan Hạ Nhiên, sinh ngày 18/3/2019 (Nữ) và trẻ Phan Hoàng Như, sinh ngày 29/5/2021 (Nữ). Cả hai con hiện đang do bà D nuôi dưỡng. Bà D yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Về tài sản chung: Bà D không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Bà D xác định không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; các văn bản tố tụng của Tòa án để ông Phan Ngọc T là bị đơn đến làm việc và tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng ông Phan Ngọc T vẫn không có mặt mà không có lý do chính đáng và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt đương sự đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 92 do Ủy ban nhân dân xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/7/2018 thì bà Phạm Thị D và ông Phan Ngọc T có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà Phạm Thị D xin ly hôn ông Phan Ngọc T, ông T có nơi cư trú tại huyện Nhà Bè. Đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phan Ngọc T là bị đơn, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để tiếp cận công khai thu thập chứng cứ và hòa giải và để ông T tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về các yêu cầu của đương sự:

[2.1] Theo lời trình bày của nguyên đơn thì kể từ năm 2021 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông Phan Ngọc T không có trách nhiệm với gia đình, phụ thuộc ba mẹ ruột. Ông T còn vay nợ nhiều người để tiêu xài cá nhân, không có khả năng trả nợ nên bà D phải trả nợ thay cho ông T. Vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng về quan điểm sống. Từ đó bà D và các con đã chuyển ra ngoài sinh sống từ đầu năm 2023.

Căn cứ theo kết quả xác minh của Hội liên hiệp phụ nữ xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè thì “Bà D và ông T quá trình sống tại địa phương chưa xảy ra mâu thuẫn gì trầm trọng mà địa phương phải giải quyết”.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Hội đồng xét xử xét:

Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Phạm Thị D và ông Phan Ngọc T đã trầm trọng, kéo dài. Mục đích hôn nhân không đạt được. Bà D và ông T đã mạnh ai người nấy sống không còn quan tâm đến nhau nữa. Nếu có duy trì cuộc hôn nhân này thì cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Hơn nữa, ông T mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc chứng tỏ ông T cũng không còn thiết tha gì đến cuộc hôn nhân này nữa. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Phạm Thị D ly hôn ông Phan Ngọc T là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con.

Hội đồng xét xử xét:

Bà Phạm Thị D và ông Phan Ngọc T có 02 con chung là trẻ Phan Hạ Nhiên, sinh ngày 18/3/2019 (Nữ) và trẻ Phan Hoàng Như, sinh ngày 29/5/2021 (Nữ). Hiện nay cả hai con đang do bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Bà D hiện đang thuê nhà ở ổn định, làm việc buôn bán, thu nhập khoảng 20 triệu đồng mỗi tháng. Để đảm bảo quyền lợi của trẻ em, Hội đồng xét xử giao cả hai con là Phan Hạ Nhiên, sinh ngày 18/3/2019 (Nữ) và trẻ Phan Hoàng Như, sinh ngày 29/5/2021 (Nữ) cho bà D tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

[2.3] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

[2.4] Về tài sản chung: Bà D không yêu cầu giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.

Về nợ chung: Bà D xác định không có.

[3] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà D phải nộp, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà D đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0017586 ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Luật trẻ em năm 2016;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị D được ly hôn ông Phan Ngọc T.

- Về con chung: Giao cả hai con là trẻ Phan Hạ Nhiên, sinh ngày 18/3/2019 (Nữ) và trẻ Phan Hoàng Như, sinh ngày 29/5/2021 (Nữ) cho bà Phạm Thị D tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

Bà Phạm Thị D có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi khi ông Phan Ngọc T đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con khi cần thiết, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.

- Về nợ chung: Bà D xác định không có.

2/ Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bà D nộp, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà D đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0017586 ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị D có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phan Ngọc T vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

129
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 307/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:307/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nhà Bè - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/06/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về