Bản án về tranh chấp ly hôn số 287/2023/HNGĐ-ST ngày 06/06/2023

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 287/2023/HNGĐ-ST NGÀY 06/06/2023 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 06 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 425/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 301/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 322/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng Thanh T, sinh năm: 1997 (Xin vắng mặt). Địa chỉ: B P, tổ A, ấp D, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Lê Thị Kim N, sinh năm: 1998 (Vắng mặt). Địa chỉ: B P, tổ A, ấp D, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/9/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ông Nguyễn Hoàng Thanh T trình bày:

Ông và bà N tự nguyện kết hôn vào năm 2017, hai bên có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 107 ngày 29/9/2017 tại UBND xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng chung sống không thể hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Bà N thường gây xung đột với ông về vấn đề tiền bạc vì bà N không đi làm mà lại thường xuyên tụ tập ăn chơi với bạn bè. Hiện tại, bà N đang quen một người đàn ông khác và không còn sống chung với ông. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2021. Ông đã cố gắng nhường nhịn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng đều không có kết quả. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lê Thị Kim N.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Minh K, sinh ngày 26/5/2019. Ông đồng ý giao con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục vì hiện nay trẻ K đang sống chung với bà N; Việc cấp dưỡng nuôi con: ông và bà N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để bà Lê Thị Kim N là bị đơn đến Tòa án làm việc và tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng bà Lê Thị Kim N vẫn không có mặt mà không có lý do chính đáng và không có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè phát biểu quan điểm: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm: Phiên tòa được mở đúng thời gian, địa điểm, Hội đồng xét xử đúng thành phần. Người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xác định tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 107 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/9/2017 thì quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Hoàng Thanh T và bà Lê Thị Kim N là hợp pháp. Ông Nguyễn Hoàng Thanh T xin ly hôn bà Lê Thị Kim N, đây là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Theo kết quả xác minh từ Công an xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 09/02/2023 thì bà Lê Thị Kim N, sinh năm: 1998 có đăng ký thường trú tại địa chỉ: B P, tổ A, ấp D, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn là bà Lê Thị Kim N mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và tiến hành thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn bà Lê Thị Kim N theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn là ông Nguyễn Hoàng Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu của đương sự:

[3.1] Xét thấy trong quá trình thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà N hoàn toàn không có mặt theo giấy triệu tập để trình bày ý kiến hay đưa ra các yêu cầu của mình. Tòa án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho bà N tại nơi cư trú nhưng bà N vẫn không có mặt chứng tỏ bà N không có thiện chí hàn gắn, xây dựng tình cảm vợ chồng đối với ông T. Mặt khác, trong quá trình sống chung giữa ông T và bà N tính tình không hòa hợp, thường xuyên cãi nhau, thiếu sự quan tâm, tin tưởng nhau, không tìm được tiếng nói chung. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà N là có thật và khả năng hàn gắn không còn, đời sống hôn nhân đã đến mức trầm trọng nên mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Hoàng Thanh T đối với bà Lê Thị Kim N.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Minh K, sinh ngày 26/5/2019. Ông T có nguyện vọng giao trẻ Nguyễn Hoàng Minh K cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi con: Ông T và bà N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét hiện nay trẻ K đang do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục nên giao bà N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ K là có căn cứ. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Việc cấp dưỡng nuôi con: Ông T trình bày ông và bà N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà N cũng không đến Tòa để trình bày ý kiến hay đưa ra yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này ông T, bà N có yêu cầu sẽ được xem xét, giải quyết trong vụ kiện khác.

Về tài sản chung: Ông T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này ông T, bà N có yêu cầu sẽ được xem xét trong vụ kiện khác.

Về nợ chung: Ông T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm, buộc nguyên đơn là ông Nguyễn Hoàng Thanh T phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Hoàng Thanh T và bà Lê Thị Kim N.

- Về con chung: Có 01 con chung là trẻ Nguyễn Hoàng Minh K, sinh ngày 26/5/2019. Giao trẻ Nguyễn Hoàng Minh K cho bà Lê Thị Kim N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Hoàng Thanh T và bà Lê Thị Kim N tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, cơ quan, hoặc cá nhân tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 86 Luật Hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung: Ông Nguyễn Hoàng Thanh T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này ông T, bà N có yêu cầu sẽ được xem xét trong vụ kiện khác.

- Về nợ chung: Ông Nguyễn Hoàng Thanh T xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này ông T, bà N có yêu cầu sẽ được xem xét trong vụ kiện khác.

2. Án phí:

Ông Nguyễn Hoàng Thanh T phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng ông Nguyễn Hoàng Thanh T đã nộp theo biên lai số 0038010 ngày 03/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo:

Ông Nguyễn Hoàng Thanh T, bà Lê Thị Kim N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

35
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 287/2023/HNGĐ-ST ngày 06/06/2023

Số hiệu:287/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nhà Bè - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:06/06/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về