Bản án về tranh chấp ly hôn số 226/2023/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 226/2023/HNGĐ-ST NGÀY 29/12/2023 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 164/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13/12/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1990. Đ kí HKTT: Đội 1, thôn Thành Quang, xã Thạch Cẩm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1990. Đ kí HKTT: Đội 2, thôn Đông Thượng, xã Đông Yên, huyện Q, Thành phố Hà Nội.

Chị Q1 có mặt. Anh Đ vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các biên bản làm việc và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Q1 trình bày như sau:

Chị và anh Hoàng Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 6 năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã Đông Yên, huyện Q, Thành phố Hà Nội.

Sau khi kết hôn hai vợ chồng được gia đình anh Đ cho ra ở nhà riêng tại đội 2, thôn Đông Thượng, xã Đông Yên, huyện Q, Thành phố Hà Nội. Sau đó khoảng 1 tuần thì chị và anh Đ chuyển về nhà bố mẹ đẻ chị ở Thanh Hóa để tiện công việc làm ăn. Tuy nhiên, chỉ sau khoảng nửa tháng chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh Đ không chịu làm ăn vì thấy sống cùng bố mẹ chị thì không phải lo về nơi ở, chi phí sinh hoạt gần như bố mẹ chị cũng lo cho hai vợ chồng. Khi chị sinh con anh Đ cũng không chăm sóc, không giúp đỡ chị về kinh tế. Ngoài ra, anh Đ còn rất hay uống rượu say rồi mắng chửi cả gia đình nhà chị, đi mua đồ thì nợ khắp làng. Chị và bố mẹ đã khuyên anh Đ rất nhiều, còn lo tiền cho đi học lái xe để có thể tìm được công việc nhưng cũng bỏ dở việc học. Do đó, bố mẹ chị yêu cầu anh Đ phải đi làm, nếu không đi sẽ không Đ ý để anh Đ sinh sống ở nhà ông bà. Vì thế, từ tháng 8/2020 anh Đ nói là đi tìm việc làm rồi đi luôn, không liên lạc về, vợ chồng chính thức sống ly thân. Sau đó một thời gian cũng có 1-2 lần anh Đ quay về và nói mong muốn đoàn tụ nhưng chị không Đ ý vì khi quay về anh Đ cũng vẫn không quan tâm đến con, không hỗ trợ gì về kinh tế. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Đ, không mong muốn đoàn tụ nên đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị.

Về con chung: Chị và anh Đ chỉ có một con chung Hoàng Hải Đ sinh ngày 14/11/2020. Khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ chung: chị xác định hai vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là anh Hoàng Văn Đ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Đ vẫn vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội Đ xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội Đ xét xử nghị án đã theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 147; Điều 271; Điều 273 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Q1. Chị Q1 được ly hôn với anh Hoàng Văn Đ. Giao chị Q1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Hoàng Hải Đ sinh ngày 14/11/2020 đến khi con chung thành niên hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Đ đến khi có quyết định thay đổi khác. Về tài sản chung, nhà đất và công nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị Q1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội Đ xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Q1 khởi kiện xin ly hôn với anh Hoàng Văn Đ có đăng kí hộ khẩu thường trú tại đội 2, thôn Đông Thượng, xã Đông Yên, huyện Q, Thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Q thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Hoàng Văn Đ nhưng anh Đ vẫn vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q1 và anh Hoàng Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 6 năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã Đông Yên, huyện Q, Thành phố Hà Nội. Xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Chị Q1 xin ly hôn vì anh Đ không chịu đi làm để xây dựng kinh tế và chăm lo gia đình. Bản thân chị và gia đình đã khuyên nhủ, tạo điều kiện cho anh Đ đi học nghề lái xe nhưng anh Đ vẫn không tu chí, còn uống rượu say rồi chửi mắng chị, gia đình chị. Anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi hơn ba năm nay. Trong suốt thời gian ly thân, anh Đ vẫn không thay đổi lối sống, không giúp đỡ chị về kinh tế để chăm nuôi con, không quan tâm đến con.Tòa án đã xác minh đối với hai bên gia đình đều thể hiện anh Đ là người không có trách nhiệm với gia đình, không tu chí làm ăn. Hiện chị Q1 và gia đình anh Đ cũng không rõ anh Đ đang làm việc ở đâu. Cách vài tháng anh Đ lại điện thoại về cho chị dâu (vợ của anh ruột hiện đang sống cùng bố đẻ anh Đ) để hỏi thăm tình hình gia đình nhưng cũng không nói cho gia đình biết nơi anh đang làm việc và về tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng anh. Năm ngoái anh Đ có về nhà tại xã Đông Yên, huyện Q ở mấy ngày rồi lại đi. Như vậy, Hội Đ xét xử thấy anh Đ đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Q1 đối với anh Đ.

- Về con chung: Chị Q1 và anh Đ có một con chung Hoàng Hải Đ sinh ngày 14/11/2020. Trong suốt thời gian qua, một mình chị Q1 chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Đ mà không có sự hỗ trợ của anh Đ. Do vậy, đề nghị của chị Q1 được nuôi con sau khi ly hôn là hoàn toàn có căn cứ nên được chấp nhận.

Chị Q1 không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Đ đến khi con chung thành niên hoặc khi có quyết định thay đổi khác.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Q1 xác định vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội Đ xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị Q1 phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Q1 đối với anh Hoàng Văn Đ.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q1 được ly hôn với anh Hoàng Văn Đ.

2. Về con chung: Giao con chung Hoàng Hải Đ sinh ngày 14/11/2020 cho chị Nguyễn Thị Q1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Hoàng Văn Đ đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác.

Anh Hoàng Văn Đ có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội Đ xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn Đ) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn Đ) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000753 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, thành phố Hà Nội.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Q1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hoàng Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

84
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 226/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:226/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quốc Oai - Hà Nội
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về