TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
BẢN ÁN 15/2025/HNGĐ-ST NGÀY 07/02/2025 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 357/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ngô Phi T, sinh năm 1986. Nơi cư trú: số nhà D, Khóm B, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin vắng mặt).
Hiện đang sinh sống tại: số C, đường L, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Đặng Thị Mỹ H, sinh năm 1981. Nơi cư trú: số nhà D, Khóm B, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 08/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngô Phi T trình bày:
- Về hôn nhân: ông T với bà H quen biết, tự tìm hiểu và được gia đình hai bên chấp thuận cho đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 06/5/2022.
Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Khoàng từ năm 2022 cho đến nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Ngoài ra, không còn mâu thuẫn nào khác. Gia đình hai bên đã khuyên ngăn nhưng cảm thấy không còn tình cảm với nhau, ông T lên Thành phố Hồ Chí Minh làm việc và hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Số C, đường L, xã P, C, Thành phố Hồ Chí Minh, còn bà H đang sinh sống tại nhà mẹ ruột của ông T (mẹ ông T đã mất) tại số nhà D, Khóm B, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long với con riêng của bà H. Từ khi sống ly thân đến nay, ông T và bà H không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, ông T nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không nói chuyện được với nhau, ông T xác định không còn tình cảm với bà H, nên ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với bà H.
Về con chung: ông T và bà H không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: ông T và bà H không có tài sản chung, nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: ông T và bà H không có nợ chung, không ai nợ ông, bà nên ông T không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn Đặng Thị Mỹ H vắng mặt suốt quá trình tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm: ông T có đơn xin xử vắng mặt và bảo lưu các ý kiến đã trình bày; bị đơn vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ông T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bà H, nên xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn được quy định tại Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ các Điều 28, 35, 36, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.
Nguyên đơn có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai: phiên tòa lần thứ nhất ngày 07/01/2025, phiên tòa lần thứ hai ngày 07/02/2025 nhưng đều vắng mặt, không có lý do nên xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung.
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà H tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn vào ngày 06/5/2022 tại Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Về mâu thuẫn vợ chồng:
Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa ông T và bà H phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Ông T giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với bà H.
Đối với bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông T cho thấy mẫu thuẫn giữa ông T và bà H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T. Xử cho ông T với bà H ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3] Về con chung: Ông T và bà H không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông T và bà H không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm: ông T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn là 300.000đ được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0007342 ngày 21/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long, ông T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144, khoản 4 Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Phi T.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Ngô Phi T với bà Đặng Thị Mỹ H.
2. Về con chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ngô Phi T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số số 0007342 ngày 21/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long, ông T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về tranh chấp ly hôn số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025
| Số hiệu: | 15/2025/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Long - Vĩnh Long |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 07/02/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về