TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
BẢN ÁN 144/2022/HNGĐ-ST NGÀY 20/07/2022 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
Ngày 20 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Dương Văn Hoàng V, sinh năm 1989 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang;
- Bị đơn: Chị Mai Thị Hồng N, sinh năm 1992 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp M, xã X, thị xã G, tỉnh Tiền Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn xin ly hôn và trong quá trình tố tụng nguyên đơn anh Dương Văn Hoàng V trình bày: Anh và chị N tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 22/01/2019. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống. Ngày 07/02/2021, chị N bỏ về nhà mẹ ruột tại ấp M, xã X, thị xã G, tỉnh Tiền Giang sinh sống, anh chị đã ly thân với nhau từ đó đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Anh yêu cầu được ly hôn với chị Mai Thị Hồng N.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Bị đơn chị Mai Thị Hồng N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị N không đến dự phiên tòa cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc anh V xin ly hôn với chị. Toà án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Dương Văn Hoàng V có đơn đề nghị giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Mai Thị Hồng N có địa chỉ: ấp M, xã X, thị xã G, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
[1.1] Anh Dương Văn Hoàng V có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Mai Thị Hồng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh V và chị N.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Văn Hoàng V và chị Mai Thị Hồng N kết hôn với nhau được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 22/01/2019 là hôn nhân hợp pháp. Nay anh V yêu cầu ly hôn cần được xem xét giải quyết theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, theo anh V trình bày giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong quan điểm sống. Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị N để hòa giải tạo điều kiện để anh chị hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặc dù, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị N không đến để trình bày ý kiến về việc anh V xin ly hôn, chứng tỏ chị N cũng không còn thiết tha hàn gắn tình cảm với anh V. Mặc khác, thời gian anh chị ly thân với nhau từ ngày 07/02/2021 đến nay, đã lâu nhưng giữa anh chị vẫn không hàn gắn tình cảm được với nhau. Xét thấy, tình cảm vợ chồng phải xuất phát từ hai phía, một bên đã không còn tình cảm mà kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai anh chị. Mâu thuẫn vợ chồng anh V và chị N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh V. [2.2] Về con chung tài sản chung và nợ chung: Theo anh V trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[3] Về án phí: Anh Dương Văn Hoàng V là nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Dương Văn Hoàng V.
1. Về hôn nhân: Anh Dương Văn Hoàng V được ly hôn với chị Mai Thị Hồng N.
2. Về án phí: Anh Dương Văn Hoàng V phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0006703 ngày 17/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã G. Như vậy, anh Dương Văn Hoàng V đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Anh Dương Văn Hoàng V và chị Mai Thị Hồng N có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về tranh chấp ly hôn số 144/2022/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 144/2022/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thị xã Gò Công - Tiền Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 20/07/2022 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về