TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
BẢN ÁN 141/2024/HNGĐ-ST NGÀY 15/01/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
Ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 136/2023/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1989 (có mặt). Địa chỉ: Ấp A, xã NP, huyện U, tỉnh C.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Út L, sinh năm 1987 (vắng mặt). Địa chỉ: Ấp A, xã NP, huyện U, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ly hôn ngày 04/5/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Huỳnh Út L chung sống với nhau từ năm 2009, nhưng đến ngày 27/6/2016 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã KA, huyện U, tỉnh C (đăng ký kết hôn tại nơi cư trú trước đây của bà T). Trong thời gian chung sống gần đây, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông L không quan tâm đến gia đình, ông L đi làm không chịu về nhà và không liên lạc với gia đình gần 06 tháng nay nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Hiện mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu giải quyết ly hôn với ông L.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Hữu Đ, sinh ngày 30/6/2011 và Huỳnh Hữu N, sinh ngày 11/4/2020. Hiện tại bà đang nuôi cháu Đ và cháu N. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Đ và cháu N. Bà không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung là không có nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục: Tòa án đã triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông L vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông L.
[2] Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị T và ông Huỳnh Út L chung sống với nhau từ năm 2009, nhưng đến ngày 27/6/2016 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã KA, huyện U, tỉnh C (đăng ký kết hôn tại nơi cư trú trước đây của bà T). Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông L được xác lập hợp pháp, thể hiện là hai người tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống giữa bà T và ông L có phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông L không quan tâm đến gia đình, chung sống không có hạnh phúc nên hai người đã sống ly thân khoảng 06 tháng nay là thực tế có xảy ra. Kể từ khi xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân đến nay mà hai bên không thể dàn xếp, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải để hai bên hàn gắn nhưng không có kết quả, do ông L không tham gia hòa giải và không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà T. Hiện tại quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông L đã L vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho hai người ly hôn là phù hợp. Vì vậy, bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với ông L là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về con chung: Bà T và ông L có 02 con chung tên Huỳnh Hữu Đ, sinh ngày 30/6/2011 và Huỳnh Hữu N, sinh ngày 11/4/2020. Cháu Đ và cháu N chưa thành niên, bà T đang nuôi cháu vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt, cuộc sống của hai cháu đã ổn định, đồng thời đối với cháu Đ (hiện đã trên 07 tuổi) cũng có nguyện vọng được chung sống với mẹ là bà T. Do đó, giao cháu Đ và cháu N cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Đ và cháu N mà không ai được cản trở. Bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời không xét.
[4] Về tài sản chung: Bà T xác định giữa bà và ông L không có tài sản chung, không ai yêu cầu giải quyết nên không xét.
[5] Về án phí: Bà T chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Ngày 04/5/2023, bà T nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U được chuyển thu án phí. Ông L không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị T được ly hôn với ông Huỳnh Út L.
Về con chung: Giao Huỳnh Hữu Đ, sinh ngày 30/6/2011 và cháu Huỳnh Hữu N, sinh ngày 11/4/2020 cho bà Đỗ Thị T tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Út L có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Huỳnh Hữu Đ và cháu Huỳnh Hữu N mà không ai được cản trở.
Về án phí: Bà Đỗ Thị T chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Ngày 04/5/2023, bà Đỗ Thị T nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0011150 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U được chuyển thu án phí.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà Đỗ Thị T có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Huỳnh Út L vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Bản án về tranh chấp ly hôn số 141/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 141/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện U Minh - Cà Mau |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 15/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về