Bản án về tranh chấp ly hôn số 136/2023/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 136/2023/HNGĐ-ST NGÀY 31/03/2023 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 31 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 483/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 207/2023/QĐST- HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diễm P, sinh năm 1971 (Có mặt) Địa chỉ: X đường Huỳnh Tấn Phát, Tổ 10, Khu phố 2, phường Phú Mỹ, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Trần Phương T, sinh năm 1973 (Vắng mặt) Địa chỉ: Y đường Huỳnh Tấn Phát, Khu phố 4, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bà Trần Thị Diễm P là nguyên đơn trình bày:

Bà Trần Thị Diễm P và ông Trần Phương T tự nguyện kết hôn năm 1996.

Hai bên có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 076/1996 do Ủy ban nhân dân thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04 tháng 9 năm 1996.

Khi kết hôn bà P và ông T sinh sống tại địa chỉ 47/9 đường Huỳnh Tấn Phát, Khu phố 4, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà P làm nghề giáo viên, thu nhập khoảng 15.000.000 đồng mỗi tháng còn ông T trước đây làm công nhân nay đã mất sức lao động.

Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng ông bà chung sống cũng hạnh phúc nhưng kể từ đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã do ông T ghen tuông vô cớ nên thường xuyên xúc phạm danh dự của bà P, làm ảnh hưởng đến việc nuôi dạy các con. Vì vậy bà P và các con đã chuyển ra ngoài sinh sống từ tháng 02 năm 2022. Nay, bà P xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà P và ông T có 02 con chung là Trần Hoàng Phương Vy, sinh ngày 02/4/1998 (Đã trưởng thành) và trẻ Trần Hoàng Đăng Khoa, sinh ngày 07/6/2007 (Nam). Sau khi ly hôn bà P yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Trần Hoàng Đăng Khoa.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà P không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà P xác định không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; các văn bản tố tụng của Tòa án để ông Trần Phương T là bị đơn đến làm việc và tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng ông Trần Phương T vẫn không có mặt mà không có lý do chính đáng và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt đương sự đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 076/1996 do Ủy ban nhân dân thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/9/1996 thì bà Trần Thị Diễm P và ông Trần Phương T có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà Trần Thị Diễm P xin ly hôn ông Trần Phương T, ông T có nơi cư trú tại huyện Nhà Bè. Đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Phương T là bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để tiếp cận công khai thu thập chứng cứ và hòa giải và để ông T tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về các yêu cầu của đương sự:

[2.1] Theo lời trình bày của nguyên đơn thì kể từ năm 2016 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông T ghen tuông vô cớ, thường xuyên xúc phạm danh dự của bà P, làm ảnh hưởng đến việc nuôi dạy các con chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không thể hàn gắn được.

Căn cứ theo kết quả xác minh của Công an thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè thì “Ông Trần Phương T, sinh năm 1983 có đăng ký hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú tại địa chỉ: 47/9, Khu phố 4, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ theo kết quả xác minh của Hội liên hiệp phụ nữ thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè thì “Trong quá trình sinh sống tại địa chỉ: 47/9, Khu phố 4, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Trần Thị Diễm P, sinh năm 1971 và ông Trần Phương T, sinh năm 1973 xảy ra mâu thuẫn nhưng không đệ đơn ra Chi hội phụ nữ Khu phố 4 và Hội liên hiệp phụ nữ thị trấn Nhà Bè”.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan T, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Hội đồng xét xử xét:

Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Trần Thị Diễm P và ông Trần Phương T đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có duy trì cuộc hôn nhân này thì cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Hơn nữa, ông T mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc chứng tỏ ông T cũng không còn thiết tha gì đến cuộc hôn nhân này nữa. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Trần Thị Diễm P ly hôn ông Trần Phương T là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi con.

Hội đồng xét xử xét:

Bà Trần Thị Diễm P và ông Trần Phương T có 02 con chung là Trần Hoàng Phương Vy, sinh ngày 02/4/1998 (Đã trưởng thành) và trẻ Trần Hoàng Đăng Khoa, sinh ngày 07/6/2007 (Nam). Hiện nay con chung đang do bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Tại Bản ghi nhận nguyện vọng, trẻ Trần Hoàng Đăng Khoa cũng muốn được ở với mẹ. Do vậy để đảm bảo quyền lợi của trẻ em và phù hợp với nguyện vọng của trẻ Khoa, Hội đồng xét xử giao trẻ Trần Hoàng Đăng Khoa cho bà P tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

[2.3] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc bà P không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

[2.4] Về tài sản chung: Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.

Về nợ chung: Bà P xác định không có.

[3] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà P phải nộp, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà P đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0038083 ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Luật trẻ em;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

-Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Diễm P được ly hôn ông Trần Phương T.

-Về con chung: Giao con chung là trẻ Trần Hoàng Đăng Khoa, sinh ngày 07/6/2007 cho bà Trần Thị Diễm P tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

-Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc bà P không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

Bà Trần Thị Diễm P có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi khi ông Trần Phương T đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con khi cần thiết, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.

Về nợ chung: Bà P xác định không có.

2/ Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bà P nộp, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà P đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0038083 ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Về quyền kháng cáo: Bà P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

73
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 136/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:136/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nhà Bè - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:31/03/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về