Bản án về tranh chấp ly hôn số 131/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 131/2024/HNGĐ-ST NGÀY 29/03/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 729/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXX-ST ngày 26/2/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 246/2024/QĐST-DS ngày 13/3/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Ngô Thảo D, sinh năm 2003;

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau. (Có mặt)

Bị đơn: Ông Lê Minh C, sinh năm 1981.

Địa chỉ: 3 đường P, ấp D, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn khởi kiện ngày 18/12/2023 và các bản tự khai và biên bản có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn bà Ngô Thảo D trình bày:

Bà D và ông Lê Minh C quen biết, tự nguyện đi đến hôn nhân và đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 13 tháng 01 năm 2023 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Theo bà D, vợ chồng sống chung hạnh phúc thời gian đầu, nhưng cuối năm 2023 phát sinh mâu thuẫn, lối sống hai người ngày càng không hợp, bất đồng quan điểm nên tình cảm nhạt dần, cả hai xâm phạm quyền và nghĩa vụ vợ chồng với nhau, cuộc sống trở nên căng thẳng. Mặc dù đôi bên đã rất nhiều lần hòa giải để cho gia đình được êm ấm và mong hàn gắn, nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, thấy sống chung không còn hạnh phúc nên cuối năm 2023 đến nay bà D đã ly thân về mẹ ruột sống. Nay bà D xác nhận không còn tình cảm với nhau, sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục sống chung. Nên nay bà D xin giải quyết cho ly hôn với ông C để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Có một con chung chưa trưởng thành tên Lê Ngọc An N, sinh ngày 23/12/2022. Hiện nay cháu đang ở cùng với bà D. Bà D đề nghị được trực tiếp nuôi trẻ N. Bà D không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lê Minh C không có phần trình bày do bị đơn không đến Tòa án tiến hành các thủ tục tự khai, tham gia phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và nghe xét xử vụ án. Mặc dù đã tiến hành thủ tục tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng.

- Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè: Qua kiểm sát giải quyết vụ án thì từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa hôm nay, đương sự có mặt đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và tuân thủ nội quy phiên tòa. Về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, do cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn sâu sắc, không hòa giải được đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận do có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Về con chung đề nghị giao cho bà D nuôi dưỡng, ông C không cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu nguyên đơn. Về tài sản chung cả hai bên không yêu cầu cho nên đề nghị không giải quyết phần này cũng như nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số: 06 ngày 13 tháng 01 năm 2023 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau thì quan hệ hôn nhân giữa bà Ngô Thảo D và ông Lê Minh C là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà Ngô Thảo D khởi kiện ly hôn ông Lê Minh C là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ông C có cư trú tại huyện N. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè đã nhiều lần tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng bị đơn ông Lê Minh C đến Tòa án để giải quyết, xét xử nhưng bị đơn vẫn không đến, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Lê Minh C.

[2] Xét đơn khởi kiện ngày 18/12/2023 của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Xét yêu cầu bà D xin ly hôn ông C với lý do mâu thuẫn vợ chồng xảy ra xuất phát từ việc hai người đến với nhau không phải vì tình yêu thương chia sẻ lẫn nhau trong cuộc sống bất đồng quan điểm dẫn đến gia đình không có tiếng nói chung mâu thuẫn trầm trọng nhiều năm cũng như hai bên đã tự hòa giải trong gia đình để duy trì hôn nhân nhưng không thành, cũng như vợ chồng đã sống ly thân. Đồng thời công văn số 729/TANB ngày 20/12/2023 xác minh tình trạng hôn nhân tại xã P, huyện N thành phố Hồ Chí Minh cho rằng ông C với bà D không có đưa đơn hòa giải về hôn nhân và thực tế bà D đã về mẹ ruột tại Cà Mau sinh sống. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D và ông C là có thật và khả năng hàn gắn không còn, đời sống hôn nhân đã đến mức trầm trọng nên mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của bà D đối với ông C.

[2.2] Về con chung: Có một con chung chưa trưởng thành tên Lê Ngọc An N, sinh ngày 23/12/2022. Do đó Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Hiện do bà D là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu N. Hội đồng xét xử chấp nhận phần yêu cầu bà D giao cháu N cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét ông C là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu N theo quy định Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Mặc khác, bà D không yêu cầu ông C cấp dưỡng. Do đó Hội đồng xét xử ghi nhận bà D không yêu cầu ông C cấp dưỡng cho cháu N.

Ông C được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở ông C thực hiện quyền này.

Vì lợi ích con chung, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Toà án có thể ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Nợ chung: Bà D xác định không có. Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Căn cứ quy định Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Xét án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nguyên đơn bà Ngô Thảo D có giá ngạch 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 91, Điều 147, Điều 225, Điều 227, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 55, Điều 57, Điều 81, Điều 82 Điều 83 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thảo D ly hôn với ông Lê Minh C. Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 13 tháng 01 năm 2023 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau không có giá trị pháp lý kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Có một con chung chưa trưởng thành tên Lê Ngọc An N, sinh ngày 23/12/2022. Buộc ông Lê Minh C giao trẻ N cho bà Ngô Thảo D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Lê Minh C không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Ông Lê Minh C được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở ông C thực hiện quyền này.

Vì lợi ích con chung, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Toà án có thể ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Ngô Thảo D tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung: Bà Ngô Thảo D khai không có nên không xem xét giải quyết.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Nguyên đơn bà Ngô Thảo D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0007819 ngày 18/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, bà D đã nộp đủ án phí.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

78
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 131/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:131/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nhà Bè - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về