Bản án về tranh chấp ly hôn số 12/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 12/2024/HNGĐ-ST NGÀY 09/01/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

 Trong ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 60/2023/TLST- HNGĐ, ngày 02/10/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con và tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐST- HN, ngày 28/11/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 13/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 15/12/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Từ Yến N, sinh năm 1997;

Địa chỉ: Đường T, khóm E, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Có mặt Bị đơn: Anh Nguyễn Thành K, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Từ Yến N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2016 chị và anh Nguyễn Thành K quen nhau và xác lập quan hệ hôn nhân đến năm 2017 đăng ký kết hôn theo quy định, thời gian chung sống chị và anh K có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 22/6/2017 chị N đang nuôi dưỡng, nguyên nhân mâu thuẫn chị N cho rằng anh K không chăm lo cho gia đình, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc chị đã bỏ về nhà mẹ ruột sống từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay, tình cảm vợ chồng cũng không còn. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thành K.

- Về con chung tên: Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 22/6/2017 chị đang nuôi chị yêu cầu được tiếp tục nuôi.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện chị N yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Ngọc Gia H mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, tại phiên toà chị N chỉ yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng và cấp dưỡng cho đến khi con chung Nguyễn Ngọc Gia H đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị N không tranh chấp, không khởi kiện, không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về số nợ phải thu, phải trả: Chị N không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Nguyễn Thành K vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên không có lời trình bày.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật: Về thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều đúng quy định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà có tống đạt, niêm yết đầy đủ cho các đương sự. Về chấp hành pháp luật của đương sự, chị N thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình riêng anh K không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị N, cho chị N và anh K được ly hôn với nhau, về con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 22/6/2017 chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi để con chung Nguyễn Ngọc Gia H có cuộc sống ổn định về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tinh thần nên để cho chị N được tiếp tục nuôi con chung, về cấp dưỡng nuôi con tại đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2023 chị N yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng và cấp dưỡng cho đến khi con chung Nguyễn Ngọc Gia H đủ 18 tuổi, tại phiên toà hôm nay chị N chỉ yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng và cấp dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, xét thấy yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị N là tự nguyện và phù hợp với pháp luật nên cần được chấp nhận. Về tài sản chung và về số nợ phải thu, phải trả chị N không tranh chấp, không yêu cầu nên không xem xét, về án phí chị N phải nộp án phí theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Thành K phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh Nguyễn Thành K có nơi cư trú trên địa bàn huyện C, tỉnh Trà Vinh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà bị đơn anh K vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh K theo luật định.

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét đơn của chị N khởi kiện xin ly hôn với anh K, yêu cầu được nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị N và anh K chung sống với nhau năm 2016 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào các Điều 08 và Điều 09 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của chị N và anh K là hợp pháp.

Xét thấy quá trình chung sống giữa chị N và anh K tuy chưa thống nhất với nhau về quan điểm đời sống vợ chồng, lối sống, về cách ứng xử giao tiếp thì anh chị phải biết tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với cuộc sống hiện tại, cùng nhau góp ý xây dựng, chia sẽ và tôn trọng lẫn nhau để tìm cách giải quyết mọi vấn đề một cách êm đẹp nhất nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình. Khi mâu thuẫn phát sinh chị N và anh K đều bỏ mặt cho hậu quả xảy ra, không còn quan tâm đến tình nghĩa vợ chồng, anh chị luôn bất hòa với nhau về mọi mặt, từ khi ly thân tháng 01 năm 2023 cho đến nay anh chị cũng không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, mạnh ai nấy sống làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Tòa án đã hòa giải hai lần để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh K không đến và tại phiên tòa hôm nay anh K vắng mặt không có lý do, từ đó cho thấy khả năng hàn gắn đoàn tụ vợ chồng là không có kết quả.

Tại phiên tòa hôm nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N xin được ly hôn với anh K là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu đơn khởi kiện của chị N, xử cho chị N và anh K được ly hôn với nhau.

Về nuôi con tên: Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 22/6/2017 là con chung của chị N và anh K trong thời gian anh chị ly thân đến nay con chung Nguyễn Ngọc G Hân sống với chị N, được chị N nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo về mọi mặt. Tại phiên tòa chị N xin được quyền nuôi dưỡng con chung là phù hợp, để con chung Nguyễn Ngọc Gia H có cuộc sống ổn định về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tinh thần, Hội đồng xét xử giao con chung Nguyễn Ngọc Gia H cho chị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2023 chị N yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, nhưng tại phiên tòa hôm nay chị N chỉ yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.500.000 đồng. Việc xin rút một phần về yêu cầu mức cấp dưỡng của chị N là tự nguyện được Hội đồng xét xử chấp nhận, xét yêu cầu của chị N về cấp dưỡng nuôi con tại phiên tòa hôm nay là phù hợp cần được chấp nhận, anh K là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại Điều 107, 110 và Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị N không khởi kiện, không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về số nợ phải thu, phải trả: Chị N không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí sơ thẩm: Chị N phải nộp tiền án phí theo quy định pháp luật.

- Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 01 Điều 28, 35, 39, Điều 147, 227, 228, 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 107, 110 và Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Từ Yến N.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Từ Yến N và anh Nguyễn Thành K được ly hôn với nhau.

- Về nuôi con: Chị Từ Yến N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 22/6/2017 sau khi ly hôn.

Anh Nguyễn Thành K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Thành K phải cấp dưỡng nuôi con tên Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 22/6/2017 mức cấp dưỡng 1.500.000đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng và cấp dưỡng cho đến khi con chung Nguyễn Ngọc Gia H đủ 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng được tính kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm cho bên được thi hành khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị N không khởi kiện, không tranh chấp không yêu cầu Toà án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về số nợ phải thu, phải trả: Chị N không tranh chấp, không yêu cầu Toà án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Từ Yến N có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0019078 ngày 02/10/2023 do chị N nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện C thu, Chị Từ Yến N đã nộp đủ án phí.

- Về án phí cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Thành K có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

111
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 12/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:12/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cầu Ngang - Trà Vinh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:09/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về