TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
BẢN ÁN 105/2024/HNGĐ-ST NGÀY 17/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 163/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/6/2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 133/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Hồng N, sinh năm 1997; địa chỉ nơi cư trú: Tổ C, khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang; có yêu cầu xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Thanh Đ, sinh năm 1995; địa chỉ nơi cư trú: ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thị Hồng N trình bày: Chị và anh Đ qua thời gian tự quen biết nhau, tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện (nay thị xã ) T, tỉnh An Giang vào ngày 06/01/2023 theo giấy chứng nhận kết hôn số 02, anh Đ không có việc làm, chị N đi làm tại Bình Dương, nguyên nhân mâu thuẫn do chị N có con riêng, nên anh Đ và mẹ anh Đ không thương, từ đó phát sinh mâu thuẫn, nên chị N yêu cầu ly hôn với anh Đ.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành hòa giải được, do anh Trần Thanh Đ vắng mặt.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
Người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đề nghị áp dụng các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Hồng N với anh Trần Thanh Đ.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Đồng thời, bị đơn cư trú trên địa bàn thị xã T. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019.
[2] Về nội dung:
[2.1] Chị N và anh Đ chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện (nay thị xã) T, tỉnh An Giang vào ngày 06/01/2023 theo giấy chứng nhận kết hôn số 02, nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Xét, vợ chồng phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nhung hiện tại chị N và anh Đ đã không sống chung với nhau khoảng 01 năm nay theo kết quả xác minh ngày 24/6/2024; trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải, nhung anh Đ vắng mặt, từ đó cho thấy anh Đ không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, nên hôn nhân giữa chị N và anh Đ không hạnh phúc, kéo dài sẽ gây đau khổ cho nhau, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N với anh Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Chị Đặng Thị Hồng N và anh Trần Thanh Đ trong thời kỳ hôn nhân không có con chung, tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.3] Chị Đặng Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; anh Trần Thanh Đ không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Hồng N, chị Đặng Thị Hồng N được ly hôn với anh Trần Thanh Đ;
Chị Đặng Thị Hồng N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0010941 ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên; Chị N đã nộp đủ án phí.
Anh Trần Thanh Đ không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Chị Đặng Thị Hồng N và anh Trần Thanh Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Bản án về tranh chấp ly hôn số 105/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 105/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tịnh Biên - An Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 17/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về