Bản án về tranh chấp ly hôn số 101/2023/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 101/2023/HNGĐ-ST NGÀY 17/08/2023 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2023/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 06 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 78/2023/QĐST- HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lai Thị Tố T, sinh ngày 18/11/1986 (Có mặt) Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện D, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Chí T, sinh ngày 25/5/1984 (Vắng mặt) Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện D, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 11/5/2023, bản tự khai ngày 06/7/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lai Thị Tố T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T có tìm hiểu nhau hai năm, sau đó hai bên tự nguyện tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện và có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thới Thuận vào năm 2011. Quá trình sống chung thời gian đầu có hạnh phúc nhưng từ tháng 12/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do mâu thuẫn về kinh tế, anh T chỉ lo ăn chơi không chăm lo cho gia đình, nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, sống không hạnh phúc và đã ly thân từ tháng 01/2018 cho đến nay, mặc dù vẫn sống chung một nhà nhưng việc ai người đó làm. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.

- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Trọng N, sinh ngày 07/6/2011 và Nguyễn Trọng D, sinh ngày 20/10/2014, các con chung đang sống chung nhà với chị và anh T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi các con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

* Tại bản tự khai ngày 24/7/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Chí T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với phần trình bày của chị T về hôn nhân, nhưng theo anh xác định phát sinh mâu thuẫn từ tháng 01/2018 và nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Ly thân từ tháng 01/2018 cho đến nay. Nay qua yêu cầu ly hôn của chị T, anh không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ, thương con.

- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Trọng N, sinh ngày 07/6/2011 và Nguyễn Trọng D, sinh ngày 20/10/2014. Trong trường hợp ly hôn, anh T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:

- Về tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tuân theo đúng quy định của pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa là không thực hiện theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T. Về con chung: Đề nghị giao cháu Nguyễn Trọng N, sinh ngày 07/6/2011 và Nguyễn Trọng D, sinh ngày 20/10/2014 cho chị T nuôi dưỡng và phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Ghi nhận chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1]. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Chí T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử, nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt anh là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T cưới nhau vào năm 2011 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thới Thuận vào năm 2011 theo đúng quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T được công nhận hợp pháp.

Nay chị T yêu cầu ly hôn, anh T không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong đó có biên bản xác minh tại chính quyền địa phương cũng như lời khai của chị T, anh T, đều xác định được cuộc sống vợ chồng của anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do mâu thuẫn về kinh tế, anh T chỉ lo ăn chơi không chăm lo cho gia đình, nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm sống và đã ly thân từ tháng 01/2018 cho đến nay.

Hơn nữa, Toà án đã tiến hành mời chị T và anh T để hoà giải, nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thể hàn gắn được.

Qua đó, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa chị T và anh T đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về nuôi con chung: Trong quá trình sống chung giữa chị T và anh T có 02 chung tên là Nguyễn Trọng N, sinh ngày 07/6/2011 và Nguyễn Trọng D, sinh ngày 20/10/2014, hiện đang sống chung với chị T và anh T. Khi ly hôn, cả chị T và anh T cùng có yêu cầu được nuôi 02 con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy: Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu N và cháu D, xét thấy các con chung hiện vẫn phát triển bình thường. Mặt khác, tại thời điểm giải quyết ly hôn giữa chị T và anh T thì các con chung đã trên 07 tuổi và đều có nguyện vọng sống với chị T; chị T cũng có nguyện vọng được nuôi con, nên để nhằm ổn định về tinh thần con chung của anh và chị và phù hợp với nguyện vọng của các con chung, cần để cháu N và cháu D cho chị T nuôi dưỡng cũng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi các con chung của chị T.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T nuôi con chung nhưng không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận và không xét đến.

[5]. Về tài sản chung: Hai bên khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến. [6]. Về nợ chung: Hai bên khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến. [7]. Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại về quan điểm giải quyết vụ án: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lai Thị Tố T đối với anh Nguyễn Chí T.

Cho ly hôn giữa chị Lai Thị Tố T và anh Nguyễn Chí T.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Lai Thị Tố T và anh Nguyễn Chí T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Nguyễn Trọng N, sinh ngày 07/6/2011 và Nguyễn Trọng D, sinh ngày 20/10/2014 cho chị Lai Thị Tố T trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Ghi nhận sự tự nguyện chị Lai Thị Tố T nuôi con chung không yêu cầu anh Nguyễn Chí T cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Chí T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Chị Lai Thị Tố T trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Chí T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Hai bên khai không có, nên không xét đến.

4. Về nợ chung: Hai bên khai không có, nên không xét đến.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Chị Lai Thị Tố T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004898 ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Như vậy, chị Lai Thị Tố T đã nộp đủ án phí.

Chị Lai Thị Tố T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với anh Nguyễn Chí T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

58
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 101/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:101/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Đại - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:17/08/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về