TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
BẢN ÁN 03/2025/HNGĐ-ST NGÀY 17/01/2025 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
Trong ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 269/2025/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “ Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 58/2024/QĐST- HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1972 (Có mặt) Địa chỉ: Ấp Đ T, xã T, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm: 1988 (Vắng mặt) Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 20/6/2024 và các lời khai có trong hồ sơ vụ án anh Nguyễn Văn Đ trình bày:
Anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị Mỹ T chung sống với nhau vào ngày 15/6/2016, có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã T vào ngày 01/10/2018 trước khi chung sống vợ chồng có tìm hiểu nhau trước khoản 2 năm mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện không bị cưỡng ép.
Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không còn tình cảm và cô T đã bỏ đi về làm ăn từ tháng 8 năm 2024 đến nay.
Nay anh Đ cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vợ chồng đã ly thân từ tháng 8 năm 2024 cho đến nay.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hữu T, sinh ngày 21/10/2014. Hiện nay cháu T đang ở với anh Đ
- Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung. Tại phiên Tòa anh Đ yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ T.
- Về con chung: Anh Đ yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 21/10/2014, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt, hợp lệ giấy triệu tập cho chị Nguyễn Thị Mỹ T tham gia phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng chị Nguyễn Thị Mỹ T đều không có mặt và không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn, bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ T cư trú tại ấp T, xã T, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự .
[2] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Mỹ T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Mỹ T.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị Mỹ T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã T , huyện Tân Hiệp ngày 01/10/2018, số 105 là phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
[3.1] Xét yêu cầu xin được ly hôn của anh Nguyễn Văn Đ Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi kết hôn anh Đ và chị T chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn tình cảm, không tìm được tiếng nói chung nên chị T đã bỏ đi làm ăn từ tháng 8 năm 2024 đến nay.
Nay anh Đ xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh Đ và chị T đã ly thân từ tháng 8 năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, không chăm sóc, giúp đỡ nhau điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân không đạt được mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hiện được tình nghiã vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;…. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau,
[3.2] Đối với chị Nguyễn Thị Mỹ T Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thủ tục tố tụng cho chị T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để Tòa án động viên anh Đ và chị T quay về đoàn tụ tiếp tục cuộc sống hôn nhân và nuôi dạy con chung nhưng chị T đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản gửi cho Tòa án về ý kiến và yêu cầu của mình. Đều này chứng tỏ chị T bỏ mặc không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa chị và anh Đ nữa. Do đó, căn cứ khoản 2, khoản 4, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Đ.
[4] Về con chung: Anh Đ xác nhận vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hữu T, sinh ngày 21/10/2014. Từ ngày vợ chồng ly thân cho đến nay cháu T do anh Đ trực tiếp, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng và phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần và tại phiên toà anh Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T, theo nguyện vọng của cháu T thì cháu có nguyện vọng ở với anh Đ. Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử thống nhất tiếp tục giao cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 21/10/2014 cho anh Nguyễn Văn Đ trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng, anh Đ không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời chị T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm.
[7] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 56,81,82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ.
2. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ T.
3. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Hữu T, sinh ngày 21/10/2014 cho anh Nguyễn Văn Đ trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Mỹ T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời chị T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0007029 ngày 09/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Anh đã nộp đủ.
6. Quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Mỹ T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp ly hôn số 03/2025/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 03/2025/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tân Hiệp - Kiên Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 17/01/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về