Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con số 69/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 69/2024/HNGĐ-ST NGÀY 01/07/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 280/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc "Tranh chấp ly hôn và nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng D - sinh năm 1986; Địa chỉ: ấp V, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp V, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 03/5/2024, các lời khai tiếp theo có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Trọng H xây dựng hôn nhân năm 2007, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên sau một thời gian chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện tại tình cảm vợ chồng cũng không còn, từ đó vợ chồng đã ly thân với nhau khoảng 02 năm nay, từ lúc ly thân đến nay chị và anh H không có gặp nhau hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng. Nay chị xác định hôn nhân không thể tiếp tục được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trọng H.

Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Nguyễn Trọng H có ba người con chung tên Nguyễn Khang H1, sinh ngày 24/7/2008, cháu Nguyễn Nhựt H2, sinh ngày 06/5/2013, cháu Nguyễn Khang H3, sinh ngày 30/5/2017. Khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi ba người con chung, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh H không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình làm việc tại Tòa án, bị đơn anh Nguyễn Trọng H trình bày: Anh thống nhất với toàn bộ lời trình bày của chị D cụ thể: Anh đồng ý ly hôn với chị D; đồng ý giao ba người con chung cho chị D nuôi dưỡng, chị D không yêu cầu anh cấp dưỡng nên anh đồng ý. Tài sản chung và nợ chung anh thống nhất với chị D là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai trình bày quan điểm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định cho chị D được ly hôn với anh H; giao ba người con chung cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng; về cấp dưỡng: do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết; tài sản chung và nợ không đặt ra giải quyết. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị D phải nộp 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Chị Nguyễn Hồng D yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Trọng H, bị đơn có địa chỉ tại thị xã G, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Chị D và anh H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị D và anh H là phù hợp quy định tại Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hồng D và anh Nguyễn Trọng H tự nguyện sống chung với nhau năm 2007 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Vì vậy, hôn nhân của chị D và anh H là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nguyên nhân ly hôn theo chị D trình bày là do vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn kéo dài, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện tại tình cảm vợ chồng cũng không còn, trong thời gian ly thân mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, các bên cũng không có biện pháp hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng. Quá trình làm việc tại Tòa án anh H cũng đồng ý ly hôn với chị D. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Hồng D được ly hôn với anh Nguyễn Trọng H.

[4] Về con chung: Chị D yêu cầu nuôi ba người con chung, anh H cũng đồng ý giao cho chị D tiếp tục nuôi ba người con chung, các con chung cũng có nguyện vọng sống với chị D. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của chị D và anh H, giao cháu Nguyễn Khang H1, sinh ngày 24/7/2008, cháu Nguyễn Nhựt H2, sinh ngày 06/5/2013, cháu Nguyễn Khang H3, sinh ngày 30/5/2017 cho chị D được tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản.

[5] Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu do đó không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về tài sản chung, nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[7] Xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.

[8] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị D phải nộp 300.000 đồng, anh Nguyễn Trọng H không phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Hồng D được ly hôn với anh Nguyễn Trọng H.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Khang H1, sinh ngày 24/7/2008, cháu Nguyễn Nhựt H2, sinh ngày 06/5/2013, cháu Nguyễn Khang H3, sinh ngày 30/5/2017 cho chị Nguyễn Hồng D được tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Trọng H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Hồng D phải nộp 300.000đ; chị D đã tạm nộp 300.000đ tại biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008773 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Giá Rai được chuyển thu án phí trong giai đoạn thi hành án.

6. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

100
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con số 69/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:69/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Giá Rai - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:01/07/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về