Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con số 48/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 48/2024/HNGĐ-ST NGÀY 12/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Trong ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 141/2024/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 6 năm 2024, về việc “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 31 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Thùy L, sinh năm 1996. (có mặt) Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện U, tỉnh Kiên Giang.

2/ Bị đơn: Anh Trương Công Q, sinh năm 1988. (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp V, xã H, huyện U, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện vụ án hôn nhân để ngày 06 tháng 6 năm 2024 nguyên đơn chị Trịnh Thị Thùy L (sau đây gọi tắt là chị L) trình bày:

- Về hôn nhân: Chị L và anh Trương Công Q (sau đây gọi tắt là anh Q) có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương vào tháng 02 năm 2019, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện U, tỉnh Kiên Giang vào ngày 20/7/2020. Vợ chồng chung sống với nhau đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống dẫn đến cãi nhau, không còn hòa hợp chung sống với nhau được nữa. Chị L và anh Q đã ly thân với nhau từ tháng 3 năm 2021 cho đến nay. Nay xét thấy không thể hàn gắn tiếp tục chung sống với nhau được nữa, chị L yêu cầu ly hôn với anh Q.

- Về con chung: Chị L và anh Q chung sống với nhau có 01 người con chung tên Trương Huy H, sinh ngày 29/11/2020, giới tính nam, hiện con chung đang sống với chị L. Nay chị L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. 2. Bị đơn anh Trương Công Q đã được Tòa án triệu tập hòa giải và xét xử nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt.

Tại biên bản giao nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 31/7/2024 anh Q có ý kiến, anh Q đồng ý ly hôn với chị L và đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của chị L.

3. Tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được như sau: Giấy khai sinh (bản sao), Giấy chứng nhận kết hôn số 50/2020, xác nhận nơi cư trú, biên bản xác nhận tình trạng hôn nhân và nguyên nhân mâu thuẫn.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn chị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn đối với anh Q. Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát:

- Về thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX, cho chị L được ly hôn với anh Q, giao con chung tên Trương Huy H, sinh ngày 29/11/2020, giới tính nam cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con, về tài sản và nợ chung chị L và anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết đề nghị HĐXX không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trương Công Q được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng anh Q vắng mặt không có lý do. Bị đơn cũng không có yêu cầu phản tố căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh Trương Công Q.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Q có tổ chức lễ cưới vào năm 2019, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện U, tỉnh Kiên Giang vào ngày 20/7/2020. Vợ chồng chung sống với nhau đến tháng 3 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi nhau, không còn hòa hợp chung sống với nhau được nữa. Chị L và anh Q đã ly thân với nhau từ tháng 3 năm 2021 cho đến nay, chị L cương quyết ly hôn với anh Q, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nay chị L yêu cầu ly hôn với anh Q căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình là có cơ sở.

[3] Về con chung: Chị L và anh Q chung sống với nhau có 01 người con chung tên Trương Huy H, sinh ngày 29/11/2020, giới tính nam, hiện con chung đang sống với chị L, chị L yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Con chung từ bé đến nay sống chung với chị L và hiện còn bé cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. HĐXX nhận thấy giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Chị L không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. HĐXX không xem xét.

Anh Q có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. HĐXX không xem xét.

[5] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. HĐXX không xem xét.

Trường hợp phát sinh tranh chấp về quyền tài sản và nợ trong thời kỳ hôn nhân sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

[6] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp theo quy định pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trịnh Thị Thùy L phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000554, ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Cho chị Trịnh Thị Thùy L được ly hôn với anh Trương Công Q.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trương Huy H, sinh ngày 29/11/2020, giới tính nam cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Q có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. HĐXX không xem xét.

4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. HĐXX không xem xét.

Trường hợp phát sinh tranh chấp về quyền tài sản và nợ trong thời kỳ hôn nhân sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Trịnh Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000554, ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng. Chị Trịnh Thị Thùy L đã nộp xong.

6. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

101
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con số 48/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:48/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện U Minh Thượng - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về