Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con số 41/2023/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

BẢN ÁN 41/2023/HNGĐ-ST NGÀY 25/05/2023 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 25 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 74/2022/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2023/QĐST- HNGĐ ngày 17/4/2023; Thông báo về việc mở lại phiên tòa sơ thẩm số 173/2023/TB-TA ngày 05/5/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Mai Thị Thu H, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn Q, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Hồ Ngọc T, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Q, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Mai Thị Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hồ Ngọc T tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Hương Bình, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 15/5/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng nhau chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình hai người không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T thường xuyên ăn nhậu về nhà chửi bới, gây gỗ đánh đập chị nên chị đã đưa con ra ngoài để sống và vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng tháng 5 năm 2021 đến nay. Nay chị thấy đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng sống ly thân đã lâu không còn tình cảm yêu thương nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung tên là Hồ Thị Quỳnh Nh, sinh ngày 12/01/2014; Hồ Ngọc D, sinh ngày 06/4/2015; Hồ Ngọc H, sinh ngày 06/8/2017. Hiện nay ba cháu đang ở với chị H nên chị H yêu cầu được nuôi 03 cháu, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác nhận vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn, anh Hồ Ngọc T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn không đến làm việc. Vì vậy, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải được.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự;

Về tố tụng: Anh T là bị đơn vắng mặt lần hai không có lý do, do đó đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Về nội dung: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H, anh T đã quá trầm trọng, hai bên không còn sống chung với nhau từ tháng 5 năm 2021 đến nay, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H. Về con chung: Hiện nay 03 cháu Hồ Thị Quỳnh Nh, sinh ngày 12/01/2014; Hồ Ngọc D, sinh ngày 06/4/2015; Hồ Ngọc H, sinh ngày 06/8/2017 đang ở với chị H, cuộc sống ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao 03 cháu cho chị H nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu nên không xét. Về tài sản chung, nợ chung không có yêu cầu nên không xem xét. Án phí ly hôn chị H phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, anh T không có yêu cầu phản tố và Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị Thu H và anh Hồ Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã được Ủy ban nhân dân xã Hương Bình, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/5/2013, đúng quy định pháp luật, nên là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng cùng nhau chung sống hạnh phúc được một thời gian xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình hai người không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T thường xuyên ăn nhậu về nhà chửi bới, gây gỗ đánh đập chị nên đã đưa các con ra ngoài để sống và vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng tháng 5 năm 2021 đến nay mà không ai quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Hiện tại tình cảm của chị H đối với anh T không còn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T cố tình trốn tránh, không hợp tác mặc dù đã biết được việc chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh T vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng, xem như bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình.

Kết quả xác minh tại UBND xã Hương Bình, nơi cư trú của bị đơn, xác định giữa chị H và anh T có xảy ra mâu thuẫn. Nay chị H có đơn yêu cầu ly hôn với anh T thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Điều này chứng tỏ hôn nhân của chị H, anh T thực sự không hạnh phúc, mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ, theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.

Vợ chồng có 03 người con chung tên là Hồ Thị Quỳnh Nh, sinh ngày 12/01/2014; Hồ Ngọc D, sinh ngày 06/4/2015; Hồ Ngọc H, sinh ngày 06/8/2017. Hiện nay cả 03 cháu đang ở với chị H, cuộc sống ổn định, nên giao 03 cháu Nhi, Duy và Huy cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu lần lượt đủ 18 tuổi là hợp lý và phù hợp với nguyện vọng của con. Chị H tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[4] Về án phí ly hôn: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị Thu H ;

Chị Mai Thị Thu H được ly hôn với anh Hồ Ngọc T.

2. Về con chung: Giao 03 cháu Hồ Thị Quỳnh Nh, sinh ngày 12/01/2014;

Hồ Ngọc D, sinh ngày 06/4/2015; Hồ Ngọc H, sinh ngày 06/8/2017 cho chị Mai Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, giao dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nhi, cháu Duy và cháu Huy lần lượt đủ 18 tuổi; anh T không phải cấp dưỡng cho con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản và nợ chung: Không có ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Mai Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001437 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chị H đã nộp đủ.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

96
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con số 41/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:41/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Hương Trà - Thừa Thiên Huế
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/05/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về