Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con số 373/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 373/2024/HNGĐ-ST NGÀY 09/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 403/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 351/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Nhả Tr, sinh năm: 2002 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T.T, xã L.A, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Đoàn Vủ L, sinh năm: 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 1/5, xã K.B, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 27/6/2024, chị Huỳnh Nhả Tr trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Đoàn Vủ L xác lập quan hệ hôn nhân và chung sống vợ chồng vào năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã K.B, huyện T, tỉnh Cà Mau. Hôn nhân được xác lập trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức hỏi cưới theo phong tục, tập quán và được gia đình hai bên chấp thuận.

Quá trình chung sống, chị Tr cho rằng tình cảm vợ chồng không còn gắn bó, luôn bất đồng quan điểm sống, anh L không quan tâm đến gia đình, bỏ mặc chị lo liệu, từ đó mâu thuẫn kéo dài mà không có cách khắc phục nên chị và anh L đã sống ly thân với nhau khoảng 03 nay. Do đó, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

- Về con chung: Chị Tr xác định giữa chị và anh L có 01 người con chung là Đoàn Huỳnh A, sinh ngày 11/10/2023, hiện đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con; yêu cầu anh L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ đến khi cháu Huỳnh A đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Chị Tr xác định không có.

- Về nợ chung: Chị Tr khai rằng giữa chị và anh L không có nợ ai và không ai nợ lại anh, chị.

* Đối với anh Đoàn Vủ L vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Về loại việc tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Tranh chấp giữa chị Huỳnh Nhả Tr và anh Đoàn Vủ L là tranh chấp về ly hôn và nuôi con nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với việc vắng mặt của anh Đoàn Vủ L: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến phiên tòa để tham gia xét xử vụ án, thông qua mẹ ruột của anh L là Lâm Thị D nhận thay các văn bản tố tụng và có cam kết giao lại nhưng anh L vẫn không có ý kiến phản hồi đồng thời cũng không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định. Đối với việc đề nghị vắng mặt của chị Huỳnh Nhả Tr, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị Tr theo quy định.

[2] Về hôn nhân: Chị Huỳnh Nhả Tr và anh Đoàn Vủ L xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có đăng ký kết hôn vào năm 2023 và đủ điều kiện kết hôn theo luật định nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Quá trình chung sống, do vợ chồng có nhiều điểm bất đồng trong cuộc sống, dẫn đến tình cảm sức mẻ, không quan tâm, chăm sóc, cảm thông, chia sẻ lẫn nhau. Xét mâu thuẫn thực tế là có nhiều mâu thuẫn, nhận thấy về mục đích hôn nhân không đạt. Bởi lẽ, trong cuộc sống vợ chồng của anh chị, mỗi người đều có cách sống, cách nghĩ khác nhau. Từ đó, giữa vợ chồng đã nhiều lần cải vã, làm mất lòng tin đối với nhau, mỗi người có cuộc sống và mối quan hệ riêng tư, không quan tâm, giúp đở lẫn nhau. Mặt khác, sau khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị tự sống ly thân khoảng 03 năm nay để anh, chị tự dung hoà nhằm hàn gắn tình cảm vợ, chồng nhưng không có hiệu quả. Thời gian này để cho anh, chị có điều kiện thử thách bản thân, suy ngẫm về cuộc sống vợ chồng đã qua nhằm tìm cách tháo gỡ, khắc phục khuyết điểm của mỗi bên để vợ, chồng đoàn tụ nhưng không ai có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn và cũng không quan tâm, thăm hỏi, giúp đỡ lẫn nhau. Bên cạnh đó, chị Tr cương quyết ly hôn, nếu không được xem xét thì chị cũng không thể quay lại chung sống với anh L, vì tình cảm không còn và tương lai, hạnh phúc cũng không có. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Tr được ly hôn anh L là có căn cứ.

[3] Về con chung: Xét thấy, cháu Đoàn Huỳnh A, sinh ngày 11/10/2023 hiện do chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Vì vậy, tiếp tục giao cháu Huỳnh A cho chị Tr trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

[4] Về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con: Chị Tr yêu cầu anh L cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000đ. Xét thấy, theo khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Thấy rằng, hiện anh L chưa có công việc và thu nhập ổn định, xét điều kiện thu nhập thực tế của anh L, mức sống, mức lương tối thiểu vùng, mức sinh hoạt thường ngày tại địa phương đối với một trẻ và theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao thì mức phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con tối thiểu không dưới ½ mức lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định tại thời điểm xét xử sơ thẩm đối với một người con. Mức lương tối thiểu vùng hiện nay do Nhà nước quy định tại Nghị định 38/2022/NĐ-CP của Chính phủ kèm theo Danh mục địa bàn vùng đối với huyện T là 3.640.000đ. Vì vậy, buộc anh L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đoàn Huỳnh A mỗi tháng 1.500.000đ theo yêu cầu chị Tr là có căn cứ.

[5] Về tài sản chung: Chị Tr xác định không có nên không xem xét.

[6] Về nợ chung: Chị Tr khai rằng giữa chị và anh L không có nợ ai và không ai nợ lại anh, chị nên không đề cập giải quyết.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Nhả Tr về việc ly hôn anh Đoàn Vủ L.

2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Đoàn Huỳnh A, sinh ngày 11/10/2023 cho chị Huỳnh Nhả Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Buộc anh Đoàn Vủ L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đoàn Huỳnh A mỗi tháng 1.500.000đ. Thời hạn cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu Huỳnh A đủ 18 tuổi. Anh L không trực tiếp nuôi con vẫn được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, chị Huỳnh Nhả Tr phải chịu 300.000đ. Ngày 27 tháng 6 năm 2024, chị Tr đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số: 5219 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo: Chị Huỳnh Nhả Tr và anh Đoàn Vủ L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

140
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con số 373/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:373/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:09/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về