TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TINH BINH DƯƠNG
BẢN ÁN 13/2024/HNGĐ-ST NGÀY 26/01/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON
Ngày 26 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 383/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Nh1, sinh năm 1983; thường trú: Xóm Y, xã y, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên; tạm trú: Số 20, đường Đoàn Th, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1983; thường trú: Xóm Y1, xã yên L, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên; tạm trú: Số 20, đường Đoàn Th, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Ngô Thị Nh1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Nh1 và ông Nguyễn Văn S1 là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39, quyển số 01 ngày 05/9/2006. Việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện, được sự chấp thuận của gia đình hai bên. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi, ông S1 không chăm chỉ làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình. Bà Nh1 đã tha thứ nhiều lần nhưng ông S1 không thay đổi. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà Nh1 xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn S1.
Về con chung: Quá trình chung sống bà Nh1 và ông S1 có 02 (hai) người con chung tên Nguyễn Như Th1, sinh ngày 28/7/2007 và Nguyễn Duy M1, sinh ngày 19/02/2009. Sau khi ly hôn, bà Nh1 yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Nguyễn Như Th1 và Nguyễn Duy M1. Trong đơn khởi kiện bà Nh1 yêu cầu ông S1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng/con cho đến khi hai con đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án bà Nh1 thay đổi yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con theo đó bà Nh1 yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu ông S1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Đây là sự tự nguyện của bà Nh1, không bị ai ép buộc.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn S1 đã được Tòa án thông báo tham gia tố tụng, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nh1 và ông S1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên, việc kết hôn là tự nguyện nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà Nh1 xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã. Ông S1 không chăm chỉ làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng quá trầm trọng không thể hàn gắn được nên bà Nh1 yêu cầu được ly hôn với ông S1.
[3] Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh, trước khi thụ lý vụ án bà Nh1 và ông S1 không ai có đơn đề nghị hòa giải tại cơ sở.
[4] Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc. Bà Nh1 xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, phát sinh trong thời gian dài không hàn gắn được. Ông S1 đã được Tòa án triệu tập làm việc, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt, không cung cấp lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà Nh1 và ông S1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Nh1 yêu cầu được ly hôn với ông S1 là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Về con chung: Bà Nh1 xác định quá trình chung sống vợ chồng có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Như Th1, sinh ngày 28/7/2007 và Nguyễn Duy M1, sinh ngày 19/02/2009. Khi Tòa án giải quyết việc ly hôn cần xem xét đến sự phát triển của con chưa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, ông S1 được Tòa án triệu tập nhưng đều vắng mặt, không có ý kiến về con chung, không cung cấp chứng cứ chứng minh ông có việc làm, có thu nhập và có mong muốn nuôi con. Cháu Th1 và cháu M1 hiện chưa thành niên và đều có mong muốn được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển của con chưa thành niên, Tòa án giao cháu Th1 và cháu M1 cho bà Nh1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nh1 không yêu cầu ông S1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với cháu Th1 và cháu M1. Xét thấy, đây là ý chí tự nguyện của bà Nh1 nên Tòa án ghi nhận.
[7] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[8] Từ những nhận định trên, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[9] Về án phí sơ thẩm: Bà Ngô Thị Nh1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 3, 17, 18, 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Nh1 đối với ông Nguyễn Văn S1 về việc ly hôn, nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Nh1 được ly hôn với ông Nguyễn Văn S1. (Giấy chứng nhận kết hôn số 39, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 05/9/2006).
- Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Nguyễn Như Th1, sinh ngày 28/7/2007 và Nguyễn Duy M1, sinh ngày 19/02/2009 cho bà Ngô Thị Nh1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ngô Thị Nh1 về việc không yêu cầu ông Nguyễn Văn S1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Sau ly hôn, bà Nh1 và ông S1 đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Trường hợp ông S1 lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc bà Nh1 nuôi con thì bà có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì quyền lợi hợp pháp của các con, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ngô Thị Nh1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ toàn bộ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006929, ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con số 13/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 13/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 26/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về