TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
BẢN ÁN 04/2024/HNGĐ-ST NGÀY 18/01/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON
Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 392/2023/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2023/QĐST - HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 và Quyết định ho n phiên tòa số 129/2023/QĐST- HNGĐ ngày 29/12/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh L, sinh năm 1993; trú tại: Số 1107/45/8, đường ĐT 743A, khu phố Ch, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1985; trú tại: Số 1107/45/8, đường ĐT 743A, khu phố Ch, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thanh L trình bày:
Chị L và anh K tự nguyện chung sống từ năm 2017, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Ph, huyện Ph, Thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận kết hôn số 67 ngày 03/7/2017. Hôn nhân của anh chị là tự nguyện và được hai bên gia đình chấp nhận.
Sau khi kết hôn, chị L và anh K chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh chị không hợp nhau, không có tiếng nói chung vợ chồng thường xuyên c i nhau. Mặc dù hai bên đ cố gắng, hai gia đình cũng đ can thiệp nhưng không thể giải quyết được. Hiện tại, chị L và anh K đ sống ly thân. Nay, chị L thấy vợ chồng không tiếp tục chung sống được nữa nên làm đơn xin ly hôn với anh K.
Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Phương A, sinh ngày 26/4/2018. Sau khi ly hôn chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh K thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại nơi cư trú cho biết không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ chồng chị L và anh K.
Anh Nguyễn Trung K được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt tại phiên tòa.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đ thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ thấy mâu thuẫn vợ chồng đ trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1 Về thủ tục tố tụng dân sự:
1.1 Chị L khởi kiện anh K yêu cầu được ly hôn, anh K hiện đang trú tại phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[1.2] Anh K được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt, chị L có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị L và anh K theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
2 Về nội dung vụ án:
2.1 Về hôn nhân: Chị L và anh K tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Ph, huyện Ph, Thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận kết hôn số 67 ngày 03/7/2017, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh K là hợp pháp.
2.2 Quá trình tố tụng chị L xác định cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên c i nhau, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, không còn quan tâm đến nhau.
Anh K được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt, coi như từ bỏ quyền trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị L.
Xét thấy, mâu thuẫn của vợ chồng chị L và anh K đ trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh K.
2.3 Về con chung: Vợ chồng có một con chung là tên Nguyễn Phương A, sinh ngày 26/4/2018. Sau khi ly hôn chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh K thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, cha m có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Cháu Nguyễn Phương A còn nhỏ, để đảm bảo cuộc sống ổn định nên cần tiếp tục giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh Kiên cấp dưỡng nuôi con.
2.4 Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3 Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ :
- Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thanh L đối với bị đơn anh Nguyễn Trung K về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh L được ly hôn với anh Nguyễn Trung K theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 67 do UBND thị trấn Ph, huyện Ph, Thành phố Hà Nội cấp ngày 03/7/2017).
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phương A, sinh ngày 26/4/2018 cho chị Nguyễn Thanh L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Sau ly hôn, chị L và anh K có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng đ nộp theo biên lai số 0006976 ngày 20/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con số 04/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 04/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 18/01/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về