Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 16/09/2025

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 59/2025/HNGĐ-ST NGÀY 16/09/2025 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 về "ly hôn, nuôi con chung".

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích T , sinh năm 2001 Địa chỉ: ấp M, xã A, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Trần Văn Chí H , sinh năm 1994 Địa chỉ: ấp C, xã A, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị Bích T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2024, chị và anh Trần Văn Chí H tự tìm hiểu nhau, sau đó tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo quy định. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khi chị mang thai tháng thứ 08 thì chị có xin anh H và gia đình nhà chồng về nhà cha mẹ ruột chị sinh sống để tiện cho việc sinh và chăm sóc con nhưng anh H và gia đình nhà chồng không đồng ý, từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể khắc phục được, đã ly thân hơn 10 tháng nay. Khi chị sinh con, anh H không thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ chị. Từ khi sinh con cho đến nay, anh H chỉ đến thăm con một lần sau đó không đến nữa và cũng không liên lạc để thăm hỏi vợ con. Nhận thấy anh H không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng đối với chị, mục đích hôn nhân giữa chị và anh H không đạt được, không thể tiếp tục sống chung nên chị xin ly hôn với anh H để mỗi người có cuộc sống riêng.

Về con chung: Chị và anh H có 01 người con chung là Trần Mẫn N , sinh ngày 11/11/2024, chị đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về nợ chung: Chị và anh H không có nợ chung ai nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị xác định chị và anh H không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

* Bị đơn anh Trần Văn Chí H vắng mặt, không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang có ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị T đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, riêng bị đơn anh H vắng mặt tại phiên họp và phiên tòa lần thứ 2 mà không có lý do là chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị T được ly hôn với anh H; giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H vắng mặt, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do là chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H.

[2] Về quan hệ hôn nhân, chị T và anh H chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ (nay là xã A) nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Nguyên nhân dẫn đến ly hôn, chị T cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn không khắc phục được. Anh H không thương yêu, quan tâm, chăm sóc khi chị sinh con. Sau khi sinh cho đến nay, anh H chỉ đến thăm con một lần thì không đến nữa và cũng không liên lạc thăm hỏi vợ con, vợ chồng đã ly thân nhau hơn 10 tháng. Nhận thấy anh H không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng đối với chị, không quan tâm chăm sóc vợ con, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục sống chung, nên chị xin ly hôn với anh H. Còn anh H vắng mặt, không có ý kiến, không tham gia các phiên họp và phiên tòa sơ thẩm.

Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình chung sống với nhau chị T và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể khắc phục được; quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh H không đảm bảo theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng, Hội đồng xét xử có căn cứ để cho rằng hôn nhân giữa anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, anh chị đã sống ly thân một thời gian không khắc phục được mâu thuẫn để vợ chồng tiếp tục chung sống nên không có khả năng đoàn tụ. Do đó, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên và yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh H .

[4] Về con chung: Chị T và anh H có 01 người con chung là Trần Mẫn N, sinh ngày 11/11/2024, chị T đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con. Xét thấy, con chung của anh chị dưới 36 tháng tuổi và chị T cũng đủ điều kiện để nuôi con, đồng thời cũng phù hợp với lợi ích của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận để chị T được tiếp tục nuôi dưỡng con. Anh H có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở. Trường hợp chị T vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì anh H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về cấp dưỡng, không ai yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị T xác định anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

[6] Về tài sản chung: Chị T xác định chị và anh H không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí, nguyên đơn chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 9, Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bích T được ly hôn với anh Trần Văn Chí H .

2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Mẫn N, sinh ngày 11/11/2024 cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh H có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở. Trường hợp chị T vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì anh H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về cấp dưỡng, không ai yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

3. Về nợ chung: Chị T xác định anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

4. Về tài sản chung: Chị T xác định anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

5. Về án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo lai thu số 0015230 ngày 22/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 7).

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

50
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung số 59/2025/HNGĐ-ST ngày 16/09/2025

Số hiệu:59/2025/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:16/09/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về