TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG NAM
BẢN ÁN 58/2024/HNGĐ-ST NGÀY 26/08/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 86/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 24/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 14/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thuý L, sinh năm: 2001; địa chỉ: Thôn 7B, xã C, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
- Bị đơn: Anh Đinh Anh T, sinh năm: 2000; địa chỉ: Thôn 03, xã L, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên toà
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn xin ly hôn và các lời khai tiếp theo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thuý L thể hiện:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Đinh Anh T tự nguyện tìm hiểu, xác lập quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam năm 2022. Cuộc sống chung giữa chị và anh T không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Ngoài ra, anh T hay chơi bời và thường xuyên đánh đập chị. Anh chị hiện không chung sống với nhau nữa. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn đối với anh Đinh Anh T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị và anh T có một người con chung chưa đủ 18 tuổi là cháu Đinh Gia Ngh, sinh ngày 17/02/2022. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đinh Gia Ngh cho đến khi đủ 18 tuổi. Chị yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến khi cháu Ngh trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án chị rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn Đinh Anh T: Sau khi Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước thụ lý vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập cũng như tống đạt hợp lệ các văn bản Tố tụng, mặc dù anh T biết việc chị L yêu cầu xin ly hôn nhưng anh T không tham gia giải quyết tại Toà án. Do đó, bị đơn không có bản tự khai, không nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn và giải quyết con chung của chị L, việc hòa giải không thực hiện được.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký cũng như Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đảm bảo quy định của pháp luật, bị đơn mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các thủ tục Tố tụng nhưng không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, xử: chị Nguyễn Thị Thuý L ly hôn với anh Đinh Anh T; giao cháu Đinh Gia Ngh, sinh ngày 17/02/2022 cho chị L nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung và nợ chung nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án do đương sự cung cấp đã được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thuý L và anh Đinh Anh T đăng ký kết hôn năm 2022 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Chị Nguyễn Thị Thuý L khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung, Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 51, 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bị đơn anh Đinh Anh T đã được tống đạt văn bản Tố tụng hợp lệ nhưng không có ý kiến phản hồi và không tham gia các hoạt động Tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nên Tòa án không hòa giải được; Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà cho bị đơn, tại phiên tòa hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 5 Điểu 177, Điều 179, Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Qúa trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thuý L rút một phần yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con chung là hòan toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thuý L và anh Đinh Anh T xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn đúng thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền, đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp.
Qúa trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thuý L cho rằng cuộc sống chung giữa chị và anh Đinh Anh T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, anh T hay chơi bời, thường xuyên đánh đập chị. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Đinh Anh T đến tham gia hòa giải để hàn gắn lại mối quan hệ nhưng anh T vẫn vắng mặt. Theo đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định hôn nhân giữa chị L và anh T không có điều kiện để tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị Thuý L được ly hôn với anh Đinh Anh T là phù hợp với thực tế và đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Về con chung: Qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thuý L yêu cầu được nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà anh Đinh Anh T đều vắng mặt không có lý do; anh T cũng không có ý kiến hay nguyện vọng gì đối với con chung. Bên cạnh đó, hiện nay con chung còn nhỏ và đang sinh sống cùng với chị L. Do đó để đảm bảo quyền lợi của trẻ em, giữ ổn định cuộc sống của con. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thuý L, giao con chung Đinh Gia Ngh cho chị L nuôi dưỡng đến trưởng thành, đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thuý L đã rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu anh Đinh Anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị Thuý L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 2 Điều 21, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điểu 177, Điều 179, Điều 207, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thuý L, cho chị L được ly hôn với anh Đinh Anh T.
Đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn về việc giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung. Quyền khởi kiện của đương sự đối với việc cấp dưỡng nuôi con chung được đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Giao con chung Đinh Gia Ngh, sinh ngày 17/02/2022 cho chị Nguyễn Thị Thuý L nuôi dưỡng đến trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Đinh Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó. Khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thuý L chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005695 ngày 21/5/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./
Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung số 58/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 58/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tiên Phước - Quảng Nam |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 26/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về