TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
BẢN ÁN 41/2023/HNGĐ-ST NGÀY 08/09/2023 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG
Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2023/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023 về "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1994; Địa chỉ: 02 đường N, phường Kh, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tiến Ph, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số 11 đường N1, phường Th1, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo Đơn khởi kiện, Bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Tiến Ph chung sống như vợ chồng từ năm 2018 nhưng đến năm 2019 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Th1, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhà cha mẹ ông Ph tại địa chỉ 11 đường N2, phường Th1, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đỉnh điểm tháng 6 năm 2021, tôi đã bỏ đi ra ngoài thuê nhà ở riêng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bản thân không tôn trọng lẫn nhau.
Nay tôi xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Ph.
Về quan hệ con chung: Tôi xác định tôi và ông Nguyễn Tiến Ph có 01 con chung tên Nguyễn Tiến D, sinh ngày 30/4/2019. Hiện nay con chung đang do tôi trực tiếp nuôi dưỡng nên tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Tiến Ph để lấy lời khai và tham gia hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú của bị đơn, xác định được ông Ph có đăng ký Hộ khẩu thường trú tại 11 đường N2, phường Th1, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, ông Ph đã đi khỏi địa phương từ tháng 01 năm 2021 cho đến nay. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Ph bằng thủ tục niêm yết.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật. Đối với bị đơn, kể từ thời điểm thụ lý đến thời điểm trước khi mở phiên tòa đã không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xử cho bà Nguyễn Thị Th được ly hôn với ông Nguyễn Tiến Ph; giao con chung tên Nguyễn Tiến D, sinh ngày 30/4/2019 cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng; ông Ph không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, về nợ chung: không có nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Th đối với bị đơn ông Nguyễn Tiến Ph thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố dụng dân sự.
Bị đơn là ông Nguyễn Tiến Ph đã được Tòa án thực hiện các thủ tục triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng đến lần thứ hai vẫn không có mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt đương sự nói trên.
[2] Về nội dung vụ án: Theo nguyên đơn trình bày thì bà Nguyễn Thị Th và ông Nguyễn Tiến Ph chung sống như vợ chồng từ năm 2018 nhưng đến năm 2019 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Th1, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhà cha mẹ ông Ph tại địa chỉ 11 đường N2, phường Th1, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Trong cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bản thân ông bà không tôn trọng nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên đến tháng 06/2021 khi mâu thuẫn đỉnh điểm thì bà Th bỏ đi thuê nhà riêng để sống. Nay bà Th xác định tình cảm không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với ông Ph.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thì thấy: Cuộc hôn nhân của bà Nguyễn Thị Th và ông Nguyễn Tiến Ph là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Đến nay, bà Th cho rằng mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không để kéo dài và không còn tình cảm với ông Ph nữa nên có quyền làm đơn khởi kiện xin ly hôn theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn, từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử ông Nguyễn Tiến Ph đều không có mặt theo triệu tập; thông báo của Toà án, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, không tham gia các phiên hoà giải và cũng không tham gia phiên toà thể hiện ông Ph không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này. Kết quả xác minh tại địa phương cho thấy, vợ chồng bà Th và ông Ph không còn chung sống với nhau tại địa phương; trong quá trình chung sống tại địa phương thì ông bà thường xuyên cải vã nhưng địa phương không biết rõ nguyên nhân. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; có kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không đem lại kết quả nên cần áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Th là hợp tình hợp lý.
[4] Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Th trình bày vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Tiến D, sinh ngày 30/4/2019. Ly hôn, bà Th có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay con chung đang do bà Th trực tiếp nuôi dưỡng, bản thân bà Th cũng xác định bà đủ điều kiện kinh tế để đảm bảo cuộc sống của con chung nên không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con. Do vậy, nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp.
[5] Về quan hệ tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Th trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Th trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[7] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo luật định.
[8] Xét các đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp và đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 63, 147, 227, 228, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử :
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn " của bà Nguyễn Thị Th đối với ông Nguyễn Tiến Ph.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Th được ly hôn với ông Nguyễn Tiến Ph.
(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 77/2019, ngày 12 tháng 8 năm 2019 của UBND phường Th1, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng) 2. Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Th và ông Nguyễn Tiến Ph có 01 con chung tên Nguyễn Tiến D, sinh ngày 30/4/2019.
Giao con chung Nguyễn Tiến D, sinh ngày 30/4/20 cho bà Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Nguyễn Tiến Ph không cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi về mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0007438 ngày 08/5/2023.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung số 41/2023/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 41/2023/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận Hải Châu - Đà Nẵng |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 08/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về