TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
BẢN ÁN 126/2024/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG
Trong ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 71/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Thị Hồng V, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Ấp Tân N, xã Tân P, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Nguyễn Thanh D, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Ấp Tân N, xã Tân P, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
(chị Lê Thị Hồng V có đơn xin vắng mặt; anh Nguyễn Thanh D vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Quá trình tố tụng nguyên đơn chị Lê Thị Hồng V trình bày:
Chị và anh D quen biết vào năm 2008, tìm hiểu nhau được một tháng thì tự nguyện sống chung tại nhà của chị V tại ấp Tân N, xã Tân P, anh chị không tổ chức cưới, đến khi chị sinh con xong thì đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân P, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang vào ngày 26/4/2011. Quá trình chung sống, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, thường hay cải vã, anh D thường hay nhậu nhẹt về nhà càm ràm, nói chuyện lớn tiếng, chửi bới chị, không cho chị ngủ, anh D chửi thề, dùng lời lẽ tục tĩu nhục mạ danh dự nhân phẩm của chị. Chị đã bỏ nhà đi thuê trọ sống từ ngày 11/6/2024, anh chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay không còn tình cảm, chị yêu cầu ly hôn với anh D.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Văn D T, sinh ngày 14/6/20xx, cháu T hiện đang sống chung với chị V. Chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con - Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
* Quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn Thanh D trình bày: Anh thống nhất lời trình bày của chị V về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn, còn về mâu thuẫn anh có nhậu nhẹt, có lớn tiếng, có chửi bới chị V vài tiếng, anh có hàn gắn, muốn đoàn tụ gia đình nhưng chị V không đồng ý. Nay anh không đồng ý ly hôn, lý do anh muốn giữ gia đình, anh còn thương vợ con. Anh không trình bày ý kiến của mình về việc người nào sẽ nuôi con trong trường hợp anh chị có ly hôn.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không kiến nghị gì về tố tụng.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Hồng V, cho chị V được ly hôn với anh D. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Văn D T, sinh ngày 14/6/20xx cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V chưa yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp "Ly hôn, nuôi con chung" theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyễn đơn chị Lê Thị Hồng V có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Thanh D vắng mặt không lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định. Việc vắng mặt của anh D không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Về hôn nhân: Chị V và anh D kết hôn năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của chị V, Hội đồng xét xử nhận thấy, theo lời trình bày của chị V: Chị và anh D chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, thường hay cải vã, anh D thường hay nhậu nhẹt về nhà càm ràm, nói chuyện lớn tiếng, chửi bới chị, không cho chị ngủ, anh D chửi thề, xúc phạm danh dự nhân phẩm của chị. Chị đã bỏ nhà đi thuê trọ sống từ ngày 11/6/2024, anh chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Về phía anh D, anh không đồng ý ly hôn, theo lời trình bày của anh thì về mâu thuẫn anh có nhậu nhẹt, có lớn tiếng, có chửi bới chị V vài tiếng, anh có hàn gắn, muốn đoàn tụ gia đình nhưng anh không có giải pháp nào để hàn gắn hôn nhân này. Do hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị V, cho chị được ly hôn với anh D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về nuôi con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn D T, sinh ngày 14/6/20xx, cháu T hiện đang sống chung với chị V. Xét yêu cầu được tiếp tục nuôi con của chị V, Hội đồng xét xử nhận thấy, cháu T sống cùng chị V đã ổn định về mọi mặt và cháu T có nguyện vọng được sống chung với mẹ nên cần giao cháu cho chị V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp, nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu. Do đó, yêu cầu của chị V là có căn cứ để chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét đến..
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
[6] Về án phí: Chị V yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hồng V.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Hồng V được ly hôn với anh Nguyễn Thanh D.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Văn D T, sinh ngày 14/6/20xx cho chị V tiêp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị V chưa yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Anh D được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung; chị V và các thành viên trong gia đình không được quyền ngăn cản.
3. Về án phí: Chị Lê Thị Hồng V phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0001741 ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyệnTân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Chị V đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị V, anh D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung số 126/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 126/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tân Phú Đông - Tiền Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 19/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về