Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung số 05/2023/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 05/2023/HNGĐ-ST NGÀY 08/09/2023 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2023/TLST- HNGĐ, ngày 25 tháng 4 năm 2023, về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị L T U, sinh năm 1986

Bị đơn: Anh N T B, sinh năm 1979

Cùng địa chỉ: Hẻm N, tổ 3, phường H, thị xã A, tỉnh G.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 25/4/2023, bản tự khai lập ngày 27/4/2023 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị L T U trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh B tự nguyện kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Quá trình chung sống lúc đầu có hạnh phúc nhưng thời gian sau thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn và thường xuyên cãi vã. Anh B đã đánh đập và xúc phạm chị nhiều lần trước mặt con cái, đặt điều vu oan cho chị nhiều vấn đề dẫn đến cuộc sống hôn nhân luôn căng thẳng. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không hạnh phúc và không thể tiếp tục sống chung được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên là N T K L, sinh ngày 31/3/2008. Sau khi ly hôn chị U có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Bồng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Chị U không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản khai ngày 19/7/2023 và tại phiên hòa giải ngày 20/7/2023, bị đơn anh B trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Về quá trình kêt hôn, con cái và tài sản của vợ chồng đúng như cô U đã trình bày, anh Bồng không khai gì thêm. Về mâu thuẫn giữa vợ chồng theo anh B thì vợ chồng có mâu thuẫn thật nhưng chưa trầm trọng đến mức phải ly hôn. Nguyên nhân do anh là phần nhiều nhưng cũng có phần do chị U. Hiện vợ chồng không thể nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn dẫn đến tình cảm ngày một phai nhạt, không còn quan tâm đến nhau. Nay anh B xác định không muốn ly hôn mà mong muốn vợ chồng suy nghĩ lại để vợ chồng đoàn tụ.

- Về con chung: Anh B chấp nhận để chị U nuôi con chung như nguyện vọng. Anh cấp dưỡng nuôi con hằng tháng nếu vợ chồng phải ly hôn và chị U có yêu cầu.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong việc giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lại Thị U ly hôn với anh B.

Về con chung: Giao con chung tên N T K L, sinh ngày 31/3/2008 cho chị U trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Chị L T U phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Chị L T U yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con chung giữa chị và anh N T B. Đây là quan hệ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh B là bị đơn trong vụ kiện có nơi cư trú tại Hẻm N, tổ 3, phường H, thị xã A, tỉnh G. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai có thẩm quyền giải quyết vụ án. Anh B là bị đơn trong vụ kiện, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh B tại phiên tòa.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa chị U và anh Bồng là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Hai người tìm hiểu tự nguyện và đăng ký kết hôn vào ngày 28/11/2006 tại Ủy ban nhân dân xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Theo chị U khai thì anh Bồng đã có hành vi đánh đập, xúc phạm chị nhiều lần trước mặt con cái, đặt điều vu oan cho chị nhiều vấn đề dẫn đến cuộc sống hôn nhân luôn căng thẳng. Anh B không phản đối nội dung này. Khi giải quyết vụ án Tòa án đã hòa giải để chị U và anh B về đoàn tụ gia đình để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dạy con cho tốt, nhưng chị U vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Tòa án tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân của hai bên thì được biết vợ chồng chị U, anh B có xảy ra mâu thuẫn là sự thật, chị U và anh B đã sống ly thân từ tháng 3/2023 cho đến nay, nhưng không bên nào báo cho Tổ hòa giải cơ sở biết để hỗ trợ, hòa giải, giúp đỡ hai bên.

Xét thấy yêu cầu ly hôn của chị U là có căn cứ vì mâu thuẫn giữa vợ chồng đã ở mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị U đối với anh B.

[3] Về việc nuôi con chung:

Chị U có nguyện vọng nuôi con chung tên N T K L. Anh Bồng đã chấp nhận nguyện vọng của chị U. Cháu L cũng muốn ở với mẹ nếu cha mẹ ly hôn. Xét nguyện vọng của chị U là chính đáng, xuất phát từ trách nhiệm đối với con. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, căn cứ các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu này, giao cho chị Út trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung N T K L, sinh ngày 31/3/2008. Chị U không yêu cầu nên anh B phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản và nghĩa vụ chung: Hai bên không yêu cầu giải quyết. Hiện tại hai bên không có nợ chung và không có ai nợ tài sản của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; 39; khoản 2 Điều 227; Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 24, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lại Thị Út

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị L T U ly hôn với anh N T B

2. Về việc nuôi con chung: Giao con chung N T K L, sinh ngày 31/3/2008 cho chị U trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Thời gian trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị U tính từ ngày hôm nay (08/9/2023) cho đến khi con chung thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Anh B có quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết có thể giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con và thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Chị U phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Toà án số 0002129 ngày 25/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai, Số tiền này được chuyển thành tiền án phí sung quỹ nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/9/2023, chị U có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Anh B vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn nói trên kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a,7b và 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

153
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung số 05/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:05/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Ayun Pa - Gia Lai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:08/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về