Bản án về tranh chấp lối đi số 376/2025/DS-PT ngày 15/09/2025

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 376/2025/DS-PT NGÀY 15/09/2025 VỀ TRANH CHẤP LỐI ĐI

Ngày 15 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 105/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp lối đi”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 181/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 239/2025/QĐ-PT ngày 25 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Võ Thị Hồng X; Địa chỉ: Số 114/1B khóm B, phường C, thành phố Vĩnh Long (nay là khóm 10, phường Long Châu), tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Võ Thị Hồng X: Ông Lê Thái S; Địa chỉ: Số 157 khóm T, phường T, thành phố Vĩnh Long (nay là phường Long Châu), tỉnh Vĩnh Long. (Văn bản ủy quyền ngày 19/8/2022).

-Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N; Địa chỉ: 28/6D đường TP, Phường B, thành phố Vĩnh Long (nay là phường Phước Hậu), tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N: Ông Nguyễn Quyết Quyền; Địa chỉ: Số 27 P, Phường B, thành phố Vĩnh Long (nay là phường Phước Hậu), tỉnh Vĩnh Long. (Văn bản ủy quyền ngày 11/01/2024).

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Bà Võ Thị Thùy T; Địa chỉ: Số 114B khóm B, phường C, thành phố Vĩnh Long (nay là khóm 10, phường Long Châu), tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thuỳ T: Ông Lê Thái S; Địa chỉ: Số M khóm T, phường T, thành phố Vĩnh Long (nay là phường Long Châu), tỉnh Vĩnh Long. (Văn bản ủy quyền ngày 29/11/2023).

2.Ông Nguyễn Văn B (chồng bà N); Nơi cư trú: Số 28/6D đường TP, phường B, thành phố Vĩnh Long (nay là phường Phước Hậu), tỉnh Vĩnh Long; Địa chỉ liên lạc: 08C khóm T, phường T, thành phố Vĩnh Long (nay là phường Tân Ngãi), tỉnh Vĩnh Long.

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Võ Thị Hồng X; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thuỳ T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị Hồng X có người đại diện theo uỷ quyền là ông Lê Thái S trình bày:

Bà Võ Thị Hồng X là chủ sử dụng thửa đất 767, diện tích 159,2m2 được cấp giấy chứng nhận số phát hành CO 638798 cấp ngày 16/8/2018; bà Võ Thị Thùy T chủ sử dụng thửa đất 766, diện tích 204,1m2; được cấp giấy chứng nhận số phát hành CP 923331 cấp ngày 06/12/2018; cùng tờ bản đồ số 46 tọa lạc Khóm 3, Phường 9, thành phố Vĩnh Long, hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng: đất ở đô thị và đất trồng cây lâu năm, được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Long cấp.

Nguốc gốc thửa đất 767, 766 của ông Võ Hoàng Thắm, bà Phạm Thị Thơ

- cha, mẹ của bà X, bà T tặng cho con, do thửa đất 767, 766 bị bao bọc bởi bất động sản khác nên bà X có hợp đồng chuyển nhượng được viết bằng giấy tay ngày 24/5/2019 với bà T phần đất diện tích 23m2 để làm lối đi, vì thửa 766 của bà T tiếp giáp với thửa 765 của bà N. Quá trình sử dụng đất hộ bà X đi lối này từ rất lâu, khi bà N chuyển nhượng thửa đất thì rào chắn làm ảnh hưởng việc sử dụng lối đi của hộ bà X. Để ra đường công cộng bà X phải đi qua thửa 766 của bà T và thửa 765 của bà N, đây là lối đi ngắn nhất và thuận tiện nhất để ra đường công cộng, ngoài lối đi qua thửa 766, 765 hộ bà X, bà T không còn lối đi nào khác. Trên phần đất bà X yêu cầu mở lối đi có hàng rào lưới B40 và cột bêtông, diện tích đất khoảng 03m2 (ngang 1,5m dài 2m) thuộc thửa 765 của bà N.

Hai bên có thương lượng, hòa giải tại Ủy ban nhân dân Phường 9 nhưng không thành. Nay bà X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Được mở lối đi trên phần đất 3m2 của bà N, bà X tự nguyện trả giá trị đất 5.000.000 đồng/m2, hoàn trả giá trị hàng rào 3.000.000 đồng cho bà N.

Đương sự đồng ý kết quả đo đạc phần lối đi 4,3m2, bà X yêu cầu đi theo kết quả đo đạc; về chi phí tố tụng khác: Đo đạc, định giá tài sản và thẩm định tại chỗ bà X, bà T tự nguyện chịu toàn bộ; giá trị hàng rào đã định các bà đồng ý hoàn trả giá trị 3.827.000 đồng cho bà N.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N có người đại diện theo uỷ quyền là ông Nguyễn Quyết Quyền trình bày:

Thửa đất 765, tờ bản đồ số 46 tọa lạc Phường 9, thành phố Vĩnh Long được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai xác nhận ngày 02/4/2021 cho bà N, nguồn gốc đất trước đây là của ông Thắm, bà Thơ chuyển nhượng qua nhiều chủ sử dụng rồi chuyển nhượng lại cho bà N, khi tách thửa để cho con là bà X, bà T thì ông Thắm phải chừa (dành) lối đi cho phần đất của mỗi hộ để sử dụng; 02 hộ này có thể yêu cầu mở lối đi khác qua phần đất của ông Thắm cũng có đường đi ra tiếp giáp với đường công cộng, không phải lối đi trên phần đất của bà là duy nhất, lẽ ra họ phải yêu cầu mở lối đi trên phần đất ông Thắm và ông Sang vì họ là cha, con; anh em trong nhà, trường hợp mở lối đi chung trên phần đất của bà sẽ gặp nhiều khó khăn khi sử dụng, phần đất 4,3m2 ngay vị trí bà X, bà T yêu cầu làm ảnh hưởng đến giá trị đất của bà, không thuận tiện cho việc sử dụng, khó chuyển nhượng lại vì bà kinh doanh đất, hiện tại hộ bà X vẫn có lối đi khác để ra đường công cộng, yêu cầu mở trên đất ông Thắm sẽ dễ dàng hơn. Vì vậy, bà N không đồng ý mở lối đi cho hai hộ trên phần đất 4,3m2 thuộc thửa 765.

Trường hợp Tòa án xử chấp nhận yêu cầu của bà X, bà T thì bà N yêu cầu hỗ trợ giá trị đất 36.000.000 đồng/m2, không đồng ý giá Hội đồng đã định (đất ở 1.000.000 đồng/m2, đất cây lâu năm 270.000 đồng/m2) và giá 5.000.000 đồng/m2 do bà X, bà T đưa ra.

Về kết quả đo đạc: Theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 31/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Vĩnh Long, với điều kiện bà N không chiết tách thửa, sang tên cho bà X, bà T, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn do bà N đứng tên.

Tại Đơn yêu cầu độc lập và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thuỳ T có người đại diện theo uỷ quyền là ông Lê Thái S trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn bà X.

Bà Võ Thị Thuỳ T có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết: Được mở lối đi trên phần đất 3m2 của bà N, bà T tự nguyện cùng bà X trả giá trị đất 5.000.000 đồng/m2, hoàn trả giá trị hàng rào 3.000.000 đồng cho bà N.

Đương sự đồng ý kết quả đo đạc phần lối đi 4,3m2 bà X yêu cầu đi theo kết quả đo đạc; về chi phí tố tụng khác: Đo đạc, định giá tài sản và thẩm định tại chỗ bà X, bà T tự nguyện chịu toàn bộ; giá trị hàng rào đã định các bà đồng ý hoàn trả giá trị 3.827.000 đồng cho bà N.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 181/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long) đã quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1, Điều 39; các điều 147, 157, 158; 165, 166, 227, 228, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Áp dụng các điều 166, 203 của Luật Đất đai năm 2013. Căn cứ khoản 3, 6 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Hồng X và yêu cầu độc lập của bà Võ Thị Thùy T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N phải tháo dỡ hàng rào để mở lối đi chung trên phần đất có diện tích 4,3m2 thuộc thửa 765, tờ bản đồ số 46, tọa lạc Khóm 3, Phường 9, thành phố Vĩnh Long cho hộ bà X và bà T.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí sơ thẩm; chi phí khảo sát đo đạc, định giá tài sản, xem xét thẩm định tại chỗ; nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.

Ngày 15 tháng 10 năm 2025, nguyên đơn bà Võ Thị Hồng X có đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số: 181/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long), yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Hồng X.

Ngày 15 tháng 10 năm 2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thuỳ T có đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số: 181/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long), yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thuỳ T.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông S là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Võ Thị Hồng X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thuỳ T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị Hồng X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thuỳ T. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N phải tháo dỡ hàng rào để mở lối đi chung trên phần đất có diện tích 4,3m2 thuộc thửa 765, tờ bản đồ số 46, tọa lạc Khóm 3, Phường 9, thành phố Vĩnh Long (nay là khóm 10, phường Long Châu), tỉnh Vĩnh Long cho hộ bà X và bà T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức, thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị Hồng X và không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thuỳ T.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm 181/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long).

Các đương sự bà Võ Thị Hồng X bà Võ Thị Thuỳ T mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N có người đại diện hợp pháp là anh Nguyễn Quyết Quyền đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Toà án xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[2]Xét đặc điểm thửa đất 767 của chị X có nhà, còn thửa 766 chị T phần đất trống và hai thửa đất trên một mặt giáp thửa đất 765 của bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N và một mặt giáp thửa 768 ông Võ Hoàng Thắm là cha ruột của bà X, bà T. Để đi ra đường công cộng bà X, bà T có thể đi qua thửa 765 của bà N hoặc đi qua thửa đất 768 của ông Thắm.

Các đương sự X, T thừa nhận nguồn gốc phần đất thửa 766, 767 trước đây thuộc quyền sử dụng của ông Thắm. Ông Thắm phân chia cho các chị sử dụng từ năm 2002 đến nay. Còn thửa đất 765 của bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N nguồn gốc trước đây cũng của ông Thắm, bà Thơ chuyển nhượng cho người khác, sau đó qua nhiều chủ sử dụng thì đến bà N. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long (nay là Tòa khu vực 1 - Vĩnh Long), bà Phạm Thị Thơ là mẹ của bà X, bà T thừa nhận lối đi theo yêu cầu khởi kiện của X, T qua thửa đất 765 của bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N do các chủ sử dụng trước bỏ đất trống, không rào chắn nên để đi ra đường công cộng thì X đi qua thửa đất trên do thuận tiện. Từ khi bà N tranh chấp rào lối đi trên thì bà X, T dùng lối đi quan thửa đất 768 ông Võ Hoàng Thắm, bà Thơ để đi ra đường công cộng nhưng không thuận tiện bằng lối đi qua thửa đất 765 của bà N. Như vậy, có căn cứ xác định phần đất thửa 766, 767 của bà X, bà T có nhiều lối đi để đi ra đường công cộng và lối đi qua thửa đất 765 của bà N không phải là lối đi duy nhất để đi ra đường công cộng. Việc bà X, bà T chọn lối đi ra đường công cộng qua thửa đất 765 của bà N là do các chủ sử dụng trước đây không có nhu cầu sử dụng nên bà X, bà T tự đi do thấy thuận tiện. Bà N khi nhận chuyển nhượng thì không đồng ý cho bà X, bà T đi qua thửa đất 765 để đi ra đường công cộng, giữa bà X, bà T và bà N không thể thỏa thuận được.

Hiện nay, khi bà N rào lối đi qua thửa 765 thì bà X, bà T đã sử dụng lối đi qua thửa đất 768 ông Võ Hoàng Thắm là cha ruột của bà X, bà T để đi ra đường công cộng.

Theo Điều 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ. Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi”.

Căn cứ, Kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 09/9/2024 thì vị trí phần đất yêu cầu mở lối đi qua một phần thửa đất 765 bà N có diện tích 4,3m2 thì thuận tiện cho bà X, bà T nhưng lại gây thiệt hại và không đảm bảo lợi ích hợp pháp cho bà N và đây không phải là lối đi duy nhất để ra đường công cộng. Trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm người đại diện hợp pháp bị đơn không đồng ý mở lối đi theo yêu cầu khởi kiện của bà X, bà T.

Vì vậy, án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà X, bà T về việc yêu cầu bà N mở lối đi qua thửa 765 bà N có diện tích 4,3m2 là có căn cứ và có xem xét đến nguồn gốc, đặc điểm, lợi ích của bất động sản bị yêu cầu mở lối đi.

Từ những nhận định trên cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà X, bà T về việc yêu cầu bà N mở lối đi qua thửa 765 bà N có diện tích 4,3m2.

[4]Về án phí dân sự phúc thẩm: bà X, bà T mỗi người phải chịu

300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

[5]Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm tuyên về án phí sơ thẩm, chi phí khảo sát, đo đạc định giá các đướng sự không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức, thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị Hồng X và không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thuỳ T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm 181/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Vĩnh Long).

Căn cứ vào các Điều 254 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 166, 203 của Luật đất đai năm 2013.

Tuyên xử:

1.Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Hồng X và yêu cầu độc lập của bà Võ Thị Thùy T về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N phải tháo dỡ hàng rào để mở lối đi chung trên phần đất có diện tích 4,3m2 thuộc thửa 765, tờ bản đồ số 46, tọa lạc Khóm 3, Phường 9, thành phố Vĩnh Long (nay là khóm 10, phường Long Châu, tỉnh Vĩnh Long) cho hộ bà Võ Thị Hồng X và bà Võ Thị Thùy T.

2.Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Võ Thị Hồng X và bà Võ Thị Thùy T mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền trên các đương sự đã nộp tạm ứng xong theo các biên lai thu số 7323, ngày 16/10/2024 và số 7324, ngày 16/10/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Vĩnh Long) sẽ được khấu trừ. Bà Võ Thị Hồng X và bà Võ Thị Thùy T đã nộp xong.

3.Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm tuyên về án phí sơ thẩm, chi phí khảo sát, đo đạc định giá các đương sự không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

25
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp lối đi số 376/2025/DS-PT ngày 15/09/2025

Số hiệu:376/2025/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/09/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về