Bản án về tranh chấp kiện đòi tài sản số 55/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 55/2024/DS-ST NGÀY 26/08/2024 VỀ TRANH CHẤP KIỆN ĐÒI TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 8 năm 2024. Tại trụ sở tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 58/2024/TLST-DS ngày 23/4/2024 về việc “Kiện đòi tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/QĐXXST-DS ngày 16/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 77/QĐST-DS ngày 16/8/2023 giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1956. Địa chỉ: Thôn Y, xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)

Bị đơn:

1. Ông Thân Văn T, sinh năm 1960. (có mặt)

2. Ông Nguyễn Đức S sinh năm 1981. (vắng mặt) Đều địa chỉ: Thôn Y, xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Dương Thị H, sinh năm 1958. Địa chỉ: Thôn Y, xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có ý kiến xin vắng mặt)

2. Ông Ngô Minh T1, sinh năm 1954. Địa chỉ: Thôn Y, xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có ý kiến xin vắng mặt)

3. UBND xã N, thị xã V tỉnh Bắc Giang - Do ông Thân Văn T2 - chức vụ: Chủ tịch UBND xã là đại diện. (vắng mặt)

4. Thôn Y, xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Do ông Vũ Hồng T3 - Trưởng thôn đại diện. (vắng mặt, có ý kiến xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, bản tự khai, các lời khai tại Tòa án cũng như tại phiên tòa ông Nguyễn Văn N trình bày:

Ngày 06/8/2009 UBND huyện V (nay là thị xã V) có Quyết định số 278/QĐ-UBND về việc giao đất ở cho nhân dân thôn Y, xã N, tổng số giao cho xã N là 5.752m² ở xứ đồng B và Cửa Đ thuộc thôn Y để giao đất ở cho 35 hộ dân diện tích là 3.740m² ngoài ra còn có đường đi, hành lang, rãnh thoát nước. Sau khi nhận quyết định, ông T (khi đó là trưởng thôn) và ông S (khi đó là phó thôn) đã tự ý tách 6 lô đất ở khu C, mỗi lô có diện tích là 140m², sau đó lại tách thành 8 lô mỗi lô có diện tích 105m². Theo quyết định của UBND huyện V (nay là thị xã V) giao 3.740m² cho 35 hộ, nhưng ông T và ông S đã giao cho 37 hộ gia đình. Theo Quyết định thì các hộ được mua phải nộp 130.000 đồng/m², tổng số một lô có diện tích 105m² phải nộp là 13.650.000 đồng, nhưng ông T và ông S đã nâng lên 250.000 đồng/m². Năm 2009 gia đình ông cũng mua 01 lô đất nêu trên nên gia đình ông phải nộp 25.000.000 đồng cho lô đất diện tích 105m². Do ông T và ông S đã thu phần chênh lệch là 11.350.000 đồng. Đến năm 2017 ông T, anh S bị xét xử về tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ tại bản án số 36/2017/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2017 của tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã xử phạt ông T 30 tháng tù và phạt ông S 12 tháng tù và phải bồi thường dân sự đồng thời tách phần dân sự của ông để giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu. Nay ông làm đơn khởi kiện về việc yêu cầu Tòa án buộc ông T và ông S phải liên đới trả cho vợ chồng ông số tiền mà ông bà đã nộp vượt quá quy định là 11.350.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, ngoài ra ông không yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa ông N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Tòa án buộc ông T và ông S phải liên đới trả ông số tiền là 11.350.000 đồng. Cụ thể ông T phải trả số tiền 7.945.000 đồng, ông S phải trả 3.405.000 đồng. Ông xác định ông không được thông báo về việc các hộ mua đất thì tự nguyện đóng tiền xây dựng các công trình phúc lợi của thôn. Ông đề nghị mua đất và được ông Tư thông báo giá đất là 25.000.000 đồng, do vậy ông nộp 25.000.000 đồng để mua đất, tiền mua đất là tiền chung của vợ chồng ông. Ông N không yêu cầu bồi thường thiệt hại và ông không yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Thân Văn T có mặt tại phiên tòa trình bày: Ông là trưởng thôn Y từ năm 2005-2011, trong thời gian này UBND huyện V (nay là thị xã V) có quyết định số 278/QĐ-UBND ngày 06/8/2009 về việc giao đất cho thôn Y, xã N. Trong quyết định đã ghi giao cho UBND xã N 5.752 m² đất tại khu bãi cầu cổ đèo thuộc thôn Y, xã N để sử dụng vào mục đích đất ở cho 35 hộ gia đình cá nhân với diện tích là 3.740 m², làm rãnh thoát nước 217,3 m² và 1.794,7 m² làm đường và hành lang đường. Sau đó UBND xã N ủy quyền lại cho lãnh đạo thôn thực hiện việc giao đất cho nhân dân dưới sự giám sát của địa chính xã. Sau đó ông và ông S đại diện cho Ban lãnh đạo thôn đứng ra thu tiền mua đất của các hộ có nhu cầu mua đất ở. Trước khi thu tiền có sự họp bàn thống nhất từ lãnh đạo thôn đến các hộ mua đất về đóng góp để xây dựng các công trình phúc lợi của thôn. Ông T làm trưởng thôn, anh S làm phó thôn hợp dân đã nâng giá đất từ 130.000 đồng/m² lên thành 250.000 đồng/m² và đã tách 06 lô mỗi lô 140m² thành 08 lô, mỗi lô có diện tích là 105 m². Theo quyết định của UBND huyện V (nay là thị xã V) giao 3.740m² cho 35 hộ, nhưng ông T và ông S đã giao cho 37 hộ gia đình. Sau đó trưởng thôn và phó thôn thu tiền theo giá mới. Ông và anh S đã thu của gia đình ông N là 25.000.000 đồng gồm tiền mua đất và thêm tiền đóng góp theo tinh thần tự nguyện, mục đích là để xây dựng công trình phúc lợi của thôn theo yêu cầu của nhân dân. Trong số các hộ tự nguyện đóng góp chỉ có một số hộ trong đó có gia đình ông Nguyễn Văn N nộp tổng số tiền 25.000.000 đồng. Số tiền 11.350.000 đồng đã sử dụng vào quỹ của thôn xây dựng công trình phúc lợi. Nay ông N yêu cầu trả số tiền 11.350.000 đồng. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện này vì bản thân ông không có tư lợi, cũng không lấy tiền của ông N.

Bị đơn ông Nguyễn Đức S vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến trình bày: năm 2006 ông T được bầu làm trưởng thôn và ông S làm phó thôn kiêm kế toán của thôn. Ông S đồng ý với ý kiến của ông T và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND xã N do ông Thân Văn T2 Chủ tịch UBND xã N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến trình bày:

Ngày 06/8/2009 UBND huyện V có Quyết định số 278/QĐ-UBND về việc giao đất ở cho nhân dân thôn Y, xã N. Tổng diện tích giao cho xã N là 5.752m² thuộc Bãi Cầu và C thôn Y để giao đất ở cho 35 hộ dân diện tích 3.740m². Ngoài ra còn có hành lang, rãnh thoát nước… Trong thời gian này, theo sự chỉ đạo của UBND huyện V, UBND xã N có giao cho chính quyền thôn Y đứng ra thu tiền của các hộ dân có nhu cầu mua đất. Giai đoạn đó ông Thân Văn T là trưởng thôn, ông Nguyễn Đức S là phó thôn - là những người trực tiếp đứng ra thu tiền mua đất của các hộ dân có nhu cầu mua đất. Các hộ mua đất trong đó có ông Nguyễn Văn N đã nộp tiền cho ông T và ông S để được mua đất theo chủ trương của UBND huyện V. Về số tiền các hộ dân nộp cho ông Thân Văn T và ông Nguyễn Đức S1: Theo sổ sách được bàn giao và ghi nhận tại UBND xã N thì không có bất cứ khoản tiền nào liên quan đến các hộ dân nộp tiền mua đất cho ông T và ông S1. UBND xã N không được thôn Y báo cáo nội dung khoản tiền này nên UBND xã không biết ông T và ông S1 thu bao nhiêu tiền, sử dụng những khoản tiền đó như thế nào. Việc ông T, ông S1 khai dùng số tiền chênh lệch này của các hộ nhằm mục đích xây dựng đường, mương máng, đình chùa và các công trình phúc lợi khác của thôn Y, liên quan nội dung này UBND xã N không được thôn Y báo cáo nên UBND xã không nắm được. Việc ông Nguyễn Văn N khởi kiện ông T và ông S, UBND xã N xác định không liên quan gì đến khoản tiền này, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến trình bày:

Bà là vợ của ông Nguyễn Văn N, bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N, bà xác định tiền nộp mua đất là tiền chung của vợ chồng bà, bà yêu cầu ông T và ông S1 có nghĩa vụ trả gia đình bà số tiền 11.350.000 đồng, bà không yêu cầu ông Ngô Minh T1 có nghĩa vụ liên đới cùng ông T và ông S1 phải trả số tiền 11.350.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Minh T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến trình bày:

Ngày 14/01/2010 ông có thu của ông N số tiền 3.000.000 đồng, việc thu tiền có lập thành phiếu thu. Chữ viết, chữ ký ở mục thủ quỹ là chữ ký của ông. Ông T1 xác định ông là thủ quỹ, thực hiện việc thu, chi theo sự chỉ đạo của T4 thôn và Phó thôn. Việc thu, chi đều có hóa đơn do Trưởng thôn và P thôn ký. Ông không biết việc ông T và ông S1 thu tiền của các hộ dân vượt quá quy định của Nhà nước, ông không được tham gia họp bàn nâng giá đất, không sử dụng tiền thu của các hộ vào mục đích cá nhân. Còn 2 phiếu thu còn lại ông T1 không thu tiền mà ông S1 là người viết phiếu đồng thời là người thu tiền.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Hồng T3 - Trưởng thôn Y vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến trình bày: Từ khi ông làm trưởng thôn đến nay, không được Ban lãnh đạo thôn nhiệm kỳ trước bàn giao lại hồ sơ, sổ sách gì liên quan đến việc thu, chi thời kỳ ông T, ông S1 làm Trưởng thôn và Phó thôn, việc ông N khởi kiện ông T và ông S1 ông đại diện cho thôn Y không có ý kiến gì. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, phiên tòa sơ thẩm đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan còn vắng mặt khi hòa giải đã chấp hành không đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 280, Điều 288 Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Buộc ông Thân Văn T, ông Nguyễn Đức S có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H1 số tiền là 11.350.000đ, trong đó ông T phải trả 7.945.000đ, ông S phải trả 3.405.000đ.

Về án phí: Ông Thân Văn T, ông Nguyễn Đức S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông T là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm, ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, không phải hoàn trả án phí cho ông Nguyễn Văn N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn yêu cầu ông Thân Văn T, ông Nguyễn Đức S trả số tiền 11.350.000 đồng, do ông Thân Văn T và ông Nguyễn Đức S thu chênh lệch cao hơn giá nhà nước quy định. Do vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là quan hệ tranh chấp kiện đòi tài sản theo quy định tại khoản 2 điều 26 BLTTDS.

[2] Về thẩm quyền: Bị đơn có địa chỉ tại thôn Y, xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án “Tranh chấp kiện đòi tài sản” trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

[3] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Nguyễn Đức S; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H1, ông Ngô Minh T1, ông Vũ Hồng T3, ông Thân Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng ông S, bà H1, ông T1, ông T3, ông T2 đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 BLTTDS.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của ông N về việc yêu cầu Tòa án buộc ông Thân Văn T và ông Nguyễn Đức S phải trả cho ông số tiền 11.350.000 đồng, cụ thể ông T phải trả số tiền 7.945.000 đồng, ông S phải trả 3.405.000 đồng.

Căn cứ ông N đưa ra là: Theo quyết định số 278/UBND ngày 06/8/2009 của UBND huyện V (nay là thị xã V) thì các hộ được mua đất phải nộp 130.000 đồng/m², tổng số một lô có diện tích 105m² phải nộp là 13.650.000 đồng, nhưng ông T và ông S đã nâng lên 250.000 đồng/m² nên gia đình ông phải nộp 25.000.000 đồng cho lô đất diện tích 105m². Do ông T và ông S đã thu phần chênh lệch là 11.350.000 đồng.

Bị đơn ông Thân Văn T và ông Nguyễn Đức S không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do: Khi thực hiện các quyết định của UBND huyện, Ban lãnh đạo thôn đều có báo cáo UBND xã N và họp bản thống nhất với các hộ mua đất, các hộ đều tự nguyện đóng góp thêm tiền để xây dựng các công trình phúc lợi của thôn, bản thân ông không có mục đích tư lợi cá nhân, toàn bộ tiền các hộ đóng góp đều được nhập vào quỹ thôn và chi vào việc xây dựng các công trình của thôn như: nhà văn hóa, Chùa… hiện nay các công trình này vẫn do Ban lãnh đạo thôn và toàn thể nhân dân thôn Y sử dụng. Số tiền 25.000.000 đồng ông N nộp, đã chi số tiền 13.650.000 đồng nộp về ngân sách nhà nước, số tiền còn lại 11.350.000 đồng nhập vào quỹ thôn để chi chung nên ông không xác định được đã chi cụ thể như nào.

Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 06/8/2009 UBND huyện V (nay là thị xã V) có quyết định 278/QĐ-UBND về việc giao đất ở cho nhân dân thôn Y, xã N, theo Quyết định này thì có 35 hộ gia đình cá nhân được giao đất ở, trong đó có 06 hộ được giao đất ở có diện tích là 140m²/1 lô, các hộ còn lại được giao đất ở có diện tích 100m²/1 lô. Sau khi nhận quyết định giao đất của UBND huyện V (nay là thị xã V), Ban lãnh đạo thôn Y đã tách 06 lô đất ở có diện tích 140m²/1 lô thành 08 lô đất ở có diện tích 105m²/1 lô, để bán thêm cho hai hộ gia đình, cá nhân khác không có tên trong danh sách.

Tại Quyết định số 35/QĐ-UBND ngày 16/01/2009 của UBND huyện V về việc phê duyệt phương án bồi thường giải phóng mặt bằng, mức giá giao đất ở cho nhân dân thôn Y, xã N là 130.000 đồng/m².

Theo Quyết định 278/QĐ-UBND ngày 06/8/2009 của UBND huyện V thì ông N không thuộc danh sách các hộ gia đình, cá nhân được giao đất làm nhà ở, tuy nhiên do Ban lãnh đạo thôn Y tách 06 lô đất diện tích 140m² thành 08 lô đất diện tích 105m² nên dư ra 02 lô đất và ông N đã được mua một lô đất diện tích 105m² tại khu vực C. Thể hiện tại 3 phiếu thu: phiếu thu số 01 ngày 26/8/2009 trong đó có chữ ký của ông Nguyễn Đức S là người lập phiếu thu và nhận thay thủ quỹ; phiếu thu số 20 ngày 05/4/2009 trong đó có chữ ký của ông Nguyễn Văn T5 là thủ trưởng đơn vị, người lập và nhận thay thủ quỹ là ông Nguyễn Đức S, ông N là người nộp tiền, phiếu thu số 01 ngày 14/01/2010 trong đó có chữ ký của ông Nguyễn Văn T5 là thủ trưởng đơn vị, người lập là ông Nguyễn Đức S, ông N là người nộp tiền, thủ quỹ là ông Nguyễn Minh T6.

Theo mức giá tại Quyết định số 35 là 130.000 đồng/m² thì một lô đất có diện tích 105m² ông N phải nộp số tiền là 13.650.000 đồng, tuy nhiên gia đình ông N đã nộp số tiền 25.000.000 đồng. Như vậy ông N đã nộp số tiền cao hơn giá của Quyết định số 35 là 11.350.000 đồng.

Bị đơn là ông T5 và ông S đều xác định chữ ký trong phiếu thu là của mình, số tiền mà ông N nộp chênh lệch là 11.350.000 đồng và đây là số tiền ông N tự nguyện đóng góp vào thôn để xây dựng, tu sửa công trình phúc lợi của thôn nên không đồng ý trả. Quá trình làm việc tại Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay ông T5, ông S không đưa ra được chứng cứ chứng minh ông N tự nguyện đóng góp vào quỹ của thôn, ông T5 và anh S2 chỉ chứng minh được khi thu của ông N số tiền 25.000.000 đồng thì đã chi số tiền 13.650.000 đồng nộp về Ngân sách huyện, không xác định được số tiền 11.350.000 đồng thu chênh của ông N đã sử dụng như thế nào.

Ông N không thừa nhận ông tự nguyện đóng góp vào quỹ thôn để xây dựng các công trình phúc lợi. Ban lãnh đạo thôn Y, UBND xã N xác định thôn Y, UBND xã không có bất cứ hồ sơ, sổ sách, khoản tiền nào liên quan đến số tiền các hộ dân đã nộp cho ông T5 và ông S. UBND xã N không được báo cáo về nội dung khoản tiền thu chênh lệch này nên UBND xã không biết ông T5 và ông S thu bao nhiêu tiền, sử dụng những khoản tiền này như thế nào. Do vậy yêu cầu khởi kiện của ông N là có căn cứ để chấp nhận.

Đối với ông Ngô Minh T1: Tại phiếu thu số 01 ngày 14/01/2011 tại mục thủ quỹ có chữ ký và chữ viết của ông. Ông T1 xác định ngày 14/01/2009 ông có thu của ông N số tiền 3.000.000 đồng, ông khẳng định ông là thủ quỹ, thực hiện việc thu, chi theo sự chỉ đạo của trưởng thôn là ông Thân Văn T và phó thôn là ông Nguyễn Đức S. Việc thu chi đều có phiếu thu, chi, ông không biết việc ông T và ông S thu tiền của các hộ dân vượt quá quy định của Nhà nước, ông không sử dụng tiền thu của các hộ vào mục đích cá nhân. Tại Bản án số 36/2017/HSST ngày 21/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang cũng đã nhận định “Khi Ban Q bàn bạc về việc triển khai thực hiện việc giao đất, thu tiền chuyển mục đích quyền sử dụng đất cao hơn với giá đất của UBND huyện V, ông T1 không được tham gia”. Ông N, bà H1 và bị đơn không yêu cầu ông T1 có nghĩa vụ liên đới cùng ông T và ông S trả số tiền 11.350.000 đồng. Ông T và ông S không có yêu cầu phân tố. Do vậy không căn cứ buộc ông Ngô Minh T1 có nghĩa vụ liên đới cùng ông T và ông S trả tiền cho ông N và bà H1.

Số tiền 25.000.000 đồng ông N nộp để mua đất là tài sản chung của ông N và bà H1, ông N khởi kiện yêu cầu ông T và ông S trả lại phần tiền ông nộp cao hơn so với quy định của Nhà nước, bà H1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông N về việc yêu cầu ông T, ông S phải trả bà số tiền nộp thừa. Do yêu cầu khởi kiện của ông N là có căn cứ chấp nhận. Nên cần buộc ông T và ông S phải có nghĩa vụ liên đới trả ông N, bà H1 số tiền 11.350.000 đồng. Xét thấy tại Bản án số 36/2017/HSST ngày 21/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã quyết định buộc ông T phải chịu bồi thường tỷ lệ 70%, ông S phải chịu bồi thường tỷ lệ 30%. Do vậy cần buộc ông T phải chịu trách nhiệm 70% tương ứng số tiền là 7.945.000 đồng, ông S phải chịu trách nhiệm 30% tương ứng với số tiền là 3.405.000 đồng là phù hợp với Điều 165, 166, 280, 288 Bộ luật dân sự.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy vì muốn có kinh phí xây dựng các công trình phúc lợi của thôn (xây nhà văn hóa, làm nhà thờ tổ, chi trả làm kênh mương…) nên các bị đơn đã cố ý thu tiền của các hộ mua đất trong đó có hộ ông Nguyễn Văn N cao hơn Quyết định của UBND huyện V quy định, các bị đơn tuy không có mục đích tư lợi cá nhân, nhưng cũng không phải vì lợi ích chung của xã hội mà chỉ vì lợi ích của thôn mà các bị đơn là lãnh đạo, do vậy cần buộc các bị đơn là ông Thân Văn T và ông Nguyễn Đức S phải chịu trách nhiệm cá nhân và phải có nghĩa vụ liên đới trả ông N, bà H1 số tiền 11.350.000 đồng, cụ thể: ông Thân Văn T phải trả số tiền 7.945.000 đồng, ông Nguyễn Đức S phải trả số tiền 3.405.000 đồng.

[4] Về lãi suất: Ông N không yêu cầu lãi suất nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí: bị đơn ông Thân Văn T và ông Nguyễn Đức S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên ông Thân Văn T hiện đã trên 60 tuổi căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Thân Văn T. Ông Nguyễn Đức S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Ông Nguyễn Văn N khi thụ lý vụ án có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí, do vậy không phải hoàn trả tạm ứng án phí cho ông N.

[6] Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 158, Điều 166, Điều 280, Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N.

Buộc ông Thân Văn T, ông Nguyễn Đức S phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị H1 số tiền là 11.350.000 đồng (Mười một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng chẵn), cụ thể: ông Thân Văn T phải trả số tiền là 7.945.000 đồng (Bảy triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn đồng), ông Nguyễn Đức S phải trả số tiền là 3.405.000 đồng (Ba triệu bốn trăm linh năm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Thân Văn T. Ông Nguyễn Đức S phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Báo cho đương sự có mặt biết quyền được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

49
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp kiện đòi tài sản số 55/2024/DS-ST

Số hiệu:55/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Việt Yên - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về