TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK
BẢN ÁN 42/2024/DS-ST NGÀY 16/09/2024 VỀ TRANH CHẤP KIỆN ĐÒI TÀI SẢN
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 28/2024/TLSTDS ngày 19 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Trương Thị Mỹ D, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số C N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Tuấn A, sinh năm 2001; Địa chỉ: C H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
* Bị đơn: Ông Lê Trọng H, sinh năm 1980 và bà Trần Thị Bích N, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, đều vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Ngọc B, sinh năm 1957; Địa chỉ: Số C N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Tuấn A trình bày:
Do bà Trương Thị Mỹ D có nhu cầu muốn mua đất tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Qua tìm hiểu bà D được biết ông Lê Trọng H và bà Trần Thị Bích N mong muốn chuyển nhượng thửa đất số 43 (D1-15), tờ bản đồ số 52 (Độc lập), diện tích 115m2, mục đích sử dụng: đất ở đô thị thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (GCNQSDĐ) số DA 084609; địa chỉ đất tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Nên vào ngày 20/4/2023, giữa bà D và ông H, bà N đã lập “Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 20/4/2023, số công chứng 004856 quyền số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất nói trên tại Văn phòng C, văn bản này thể hiện giá chuyển nhượng là 4.400.000.000 đồng và bà D đồng ý giao trước 1.500.000.000 đồng cho vợ chồng ông H, bà N để thanh toán cho Ngân hàng vì bìa đỏ đang thế chấp tại Ngân hàng. Việc giao tiền này bà D có chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng TMCP B1 theo số tài khoản 47000106000xxxx mang tên Trương Thị Mỹ D với số tiền 1.499.999.997 đồng vì Ngân hàng chỉ cho chuyển mỗi lần dưới 500.000.000 đồng, người thụ hưởng là bà Trần Thị Bích N theo số tài khoản 012369798xxxx của Ngân hàng TMCP Q (M). Việc chuyển tiền thực hiện 03 lần với nội dung chuyển khoản: “TRƯƠNG THI MY DUNG CHUYEN TIEN” vào ngày 20/4/2023.
Thời hạn thực hiện là 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng trên, vợ chồng ông H phải thực hiện các việc cam kết rút GCNQSDĐ và xóa thế chấp để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất này lại cho bà D.
Tuy nhiên đến thời hạn trên thì vợ chồng ông H không thực hiện được các nội dung cam kết và thỏa thuận theo Văn bản thỏa thuận nêu trên đã được Văn phòng C xác thực, nên bà D đã làm khởi kiện vợ chồng ông H đến Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột. Tại buổi làm việc ngày 03/8/2023 - Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, bà D và vợ chồng ông H đã lập “Giấy cam kết trả nợ” thể hiện nội dung vợ chồng ông H cam kết trả cho bà D số tiền 1.500.000.000 đồng và chi phí thiệt hại là 300.000.000 đồng. Tổng số tiền là 1.800.000.000 đồng. Thời gian trả nợ từ ngày 03/08/2023 đến ngày 03/10/2023. Việc cam kết này được lập thành văn bản có chữ ký của vợ chồng ông H bà N để ngày 03/08/2023. Sau đó, bà D đã rút đơn khởi kiện. Đối với số tiền 300.000.000 đồng thì do các bên đã thỏa thuận không thực hiện theo Văn bản thỏa thuận số công chứng 004856 quyền số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD này thì vợ chồng ông H, bà N tự nguyện trả số tiền 300.000.000 đồng là chi phí thiệt hại phát sinh. Các bên thống nhất và đồng ý nên đã lập “Văn bản Hủy bỏ văn bản thỏa thuận” ngày 09/08/2023 với nội dung: “Hai bên thỏa thuận đồng ý hủy bỏ các thỏa thuận nêu trên trong Văn bản thỏa thuận số công chứng 004856 quyền số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD đã được Văn phòng C, tỉnh Đắk Lắk”. Văn bản này được lập tại Văn phòng C theo số công chứng 011098 quyền số 08/2023 TP/CC-SCC/HĐGD.
Đến nay, bà D nhiều lần liên lạc với vợ chồng ông H, bà N nhưng không nhận được bất kỳ câu trả lời nào về việc thanh toán số tiền 1.800.000.000 đồng. Vì vậy bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn ông Lê Ngọc H1 và bà Trần Thị Bích N phải thực hiện nghĩa vụ trả lại cho bà D, ông Phạm Ngọc B số tiền 1.800.000.000 đồng và lãi suất chậm trả tính từ ngày 04/10/2023 cho đến khi trả nợ xong.
Theo bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc B trình bày: Đồng ý với ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và không có ý kiến gì bổ sung.
Đối với bị đơn sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và nhiều văn bản tố tụng khác để thông báo cho bị đơn tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi cho mình nhưng bị đơn đều vắng mặt tại các buổi làm việc ở Tòa án cũng như tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án không lấy được lời khai của bị đơn.
Ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng các Điều 357, 385, 423, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N phải có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn số tiền là 1.800.000.000 đồng và lãi suất theo quy định kể từ ngày 04/10/2023 cho đến khi kết thúc vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng và thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền cam kết trả nợ là 1.800.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật kể từ ngày 04/10/2023 cho đến khi kết thúc vụ án, nên đây là vụ án “Tranh chấp kiện đòi tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn có địa chỉ tại thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Bị đơn ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý, giải quyết xét xử là đúng với quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền 1.800.000.000 đồng, thấy rằng: Ngày 20/4/2023 giữa bà Trương Thị Mỹ D và ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N đã ký kết “Văn bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 20/4/2023 tại Văn phòng C để đảm bảo việc chuyển nhượng thửa đất số 43, tờ bản đồ số 52, diện tích 115m2, tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 084609 ngày 09/6/2021; giá chuyển nhượng là 4.400.000.000 đồng; bà D đã giao trước cho ông H, bà N số tiền 1.500.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản 03 lần. Thời hạn thực hiện là 30 ngày kể từ ngày 20/4/2023. Tuy nhiên, sau đó vợ chồng ông H không thực hiện được các nội dung cam kết và thỏa thuận theo Văn bản nêu trên nên ngày 03/8/2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, bà D và vợ chồng ông H đã lập “Giấy cam kết trả nợ”, thỏa thuận ông H, bà N cam kết trả cho bà D số tiền 1.500.000.000 đồng và chi phí thiệt hại, lãi suất phát sinh là 300.000.000 đồng. Tổng số tiền phải trả là 1.800.000.000 đồng, hạn trả nợ là 02 tháng từ ngày 03/8/2023 đến ngày 03/10/2023. Đồng thời, ngày 09/08/2023 các bên đã lập “Văn bản Hủy bỏ văn bản thỏa thuận” tại Văn phòng C với nội dung: “Hai bên thỏa thuận đồng ý hủy bỏ các thỏa thuận nêu trên trong Văn bản thỏa thuận số công chứng 004856 quyền số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD đã được Văn phòng C, tỉnh Đắk Lắk”. Như vậy, kể từ ngày 09/8/2023 bà Trương Thị Mỹ D và ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N đã thỏa thuận chấm dứt giao dịch chuyển nhượng thửa đất số 43, tờ bản đồ số 52, diện tích 115m2, tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N có trách nhiệm trả cho bà Trương Thị Mỹ D số tiền đã nhận 1.500.000.000 đồng và chi phí thiệt hại là 300.000.000 đồng, tổng cộng 1.800.000.000 đồng. Đây là sự thỏa thuận tự nguyện giữa hai bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 cho nên cam kết trên có hiệu lực.
Theo nguyên đơn trình bày, từ sau khi lập “Giấy cam kết trả nợ” ngày 03/8/2023 và “Văn bản Hủy bỏ văn bản thỏa thuận” ngày 09/08/2023 đến nay thì bị đơn vẫn chưa trả số tiền 1.800.000.000 đồng như đã cam kết cho nguyên đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và nhiều văn bản tố tụng khác để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng bị đơn ông Lê Trọng H và bà Trần Thị Bích N vẫn cố tình lẫn tránh không tham gia. Mặt khác, ngày 27/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin đã ban hành Quyết định số 11/2024/QĐ-TCGĐ về việc trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông Lê Trọng H và bà Trần Thị Bích N trong “Giấy cam kết trả nợ để ngày 03/8/2023” và “Văn bản hủy bỏ văn bản thỏa thuận” ngày 09/8/2023. Tại Kết luận giám định số 768/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ kết luận: “1. Chữ ký, chữ viết mang tên Lê Trọng H dưới mục “Bên A” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 và dưới dòng chữ “Ngày 03/08/2023” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết mang tên Lê Trọng H trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu từ M1 đến M3 là do cùng một người ký và viết ra; 2. Chữ ký, chữ viết mang tên Trần Thị Bích N dưới mục “Bên A” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 và dưới dòng chữ “Ngày 03/08/2023” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết mang tên Trần Thị Bích N trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu từ M1 đến M3 là do cùng một người ký và viết ra;”.
Xét quan hệ pháp luật dân sự giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy quyền và nghĩa vụ của các bên được pháp luật bảo vệ. Đến thời hạn thanh toán, bị đơn ông H, bà N không trả tiền cho bà D là vi phạm trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 351, khoản 1 Điều 353 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ D khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền 1.800.000.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[2.2] Về lãi suất: Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải trả lãi suất chậm trả của nợ gốc 1.800.000.000 đồng tính từ ngày 04/10/2023 cho đến khi trả nợ xong thì thấy: Tại “Giấy cam kết trả nợ” để ngày 03/8/2023 và “Văn bản Hủy bỏ văn bản thỏa thuận” ngày 09/08/2023 các bên thỏa thuận thời hạn trả nợ là từ ngày 03/8/2023 đến ngày 03/10/2023, không thỏa thuận về lãi suất mà chỉ thỏa thuận với nhau về việc nếu không thực hiện đúng cam kết sẽ sử dụng tài sản khác đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ. Căn cứ Điều 351, khoản 1 Điều 353, khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468; khoản 2 Điều 2, khoản 2 Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, HDXX xác định số tiền lãi mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn như sau:
- Tiền lãi trên nợ gốc chưa trả từ ngày 04/10/2023 đến ngày 16/9/2024 (ngày xét xử) là 11 tháng 12 ngày = 1.800.000.000 đồng x (10% : 12 tháng) x 11 tháng 12 ngày (348 ngày) = 173.304.000 đồng.
Như vậy, bị đơn ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N phải trả cho bà Trương Thị Mỹ D và ông Phạm Ngọc B tổng số tiền là 1.973.304.000 đồng, trong đó tiền gốc là: 1.800.000.000 đồng và tiền lãi là 173.304.000 đồng.
[3] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết và đã chi phí số tiền 6.670.000 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ vào các Điều 159, 160, 161, 162 Bộ luật Tố tụng dân sự buộc ông H, bà N phải chịu 6.670.000 đồng tiền chi phí giám định.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 144, 147, 227, 228, 235, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 351, khoản 1 Điều 353, khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 2, khoản 2 Điều 5, Điều 6, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ D.
1. Buộc ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị Mỹ D và ông Phạm Ngọc B số tiền 1.973.304.000 đồng (Một tỷ, chín trăm bảy mươi ba triệu, ba trăm linh bốn nghìn đồng), trong đó: tiền gốc là 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng) và tiền lãi là 173.304.000 đồng (Một trăm bảy mươi ba triệu, ba trăm linh bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N phải chịu số tiền 6.670.000 đồng (Sáu triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền chi phí giám định chữ ký, chữ viết. Sau khi thu được từ ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N thì trả lại cho bà Trương Thị Mỹ D số tiền 6.670.000 đồng (Sáu triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn đồng).
3. Về án phí: Ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N phải chịu 71.199.000 đồng (Bảy mươi mốt triệu, một trăm chín mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ D số tiền 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2023/0004349 ngày 14/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp kiện đòi tài sản số 42/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 42/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Cư Kuin - Đăk Lăk |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 16/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về