Bản án về tranh chấp kiện đòi tài sản số 06/2023/DS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 06/2023/DS-ST NGÀY 07/07/2023 VỀ TRANH CHẤP KIỆN ĐÒI TÀI SẢN

 Ngày 07 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2022/TLST - DS ngày 6 tháng 9 năm 2022, về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST - DS ngày 15 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

Bị đơn: Anh Lê Văn L, sinh năm 1980 và chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc , vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Lê Văn N, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc ,vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/6/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Bùi Văn C trình bày:

Vào khoảng đầu tháng 4 năm 2012, vợ chồng anh Lê Văn L và chị Nguyễn Thị B có đến hỏi vay tiền ông để làm ăn. Do nể nang vì anh L gọi ông là bác họ nên ông cho vợ chồng anh L, chị B vay số tiền 446.000.000 đồng, khi vay hai bên không viết giấy tờ gì, vợ chồng anh L hẹn sau 01 tháng trả lại tiền vay cho ông. Đến hạn 01 tháng, anh L, chị B không trả lại cho ông số tiền đã vay, chỉ hứa hẹn, khất nợ. Đến ngày 12/5/2012 ông phải đến nhà anh L, chị B để nói chuyện việc vay nợ và yêu cầu anh L, chị B phải viết giấy nhận nợ để làm căn cứ vì trước đó ông cho anh L chị B vay không viết giấy tờ gì. Sau đó, chị B là người viết giấy, anh L, chị B ký và có mặt ông N (là chú ruột của anh L) ở đấy nên cũng ký vào giấy nhận nợ là người làm chứng. Sau một thời gian vay anh L chị B không trả nợ cho ông mặc dù ông đến nhà đòi nhiều lần, cố tình trốn tránh, thách thức. Nay ông làm đơn đề nghị Tòa án buộc anh Lê Văn L và chị Nguyễn Thị B phải trả nợ cho ông số tiền 446.000.000 đồng. Ông không yêu cầu phải trả lãi.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn được tống đạt thông báo thụ lý, thông báo phiên họp, thông báo kết quả phiên họp và được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt, không ký bất kỳ giấy tờ gì nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phiên tòa; những người tham gia tố tụng gồm có nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để lấy lời khai của anh Lê Văn L để làm rõ quá trình vay tiền của ông Bùi Văn C như thế nào, anh L viết giấy nhận nợ với ông Bùi Văn C như thế nào để làm rõ nội dung vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Bùi Văn C có đơn yêu cầu Tòa án buộc anh Lê Văn L và chị Nguyễn Thị B phải trả nợ cho ông số tiền vay, bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Mỹ Đô, xã Tân Phong, huyện B Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, xác định đây là tranh chấp kiện đòi tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tung dân sự.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng cố tình vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với đề nghị tạm ngừng phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân huyện B Xuyên, Hội đồng xét xử thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi giấy triệu tập, các văn bản tố tụng đến cho anh L nhưng anh L cố tình trốn tránh, từ chối không nhận cũng như không ký vào bất kỳ văn bản tố tụng nào. Vì vậy, Tòa án không thể lấy lời khai của anh L được. Hơn nữa nội dung trong giấy nhận nợ thể hiện rõ người cho vay, người vay, người làm chứng và số tiền vay. Chính vì vậy, việc đề nghị tạm ngừng phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Tại phiên tòa ông Bùi Văn C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Tòa án buộc anh Lê Văn L và chị Nguyễn Thị B phải trả cho ông số tiền 446.000.000 đồng đã vay. Ông không yêu cầu tính lãi suất.

Xét yêu cầu khởi kiện và chứng cứ của nguyên đơn ông Bùi Văn C cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy: Giấy nhận nợ giữa ông Bùi Văn C và anh Lê Văn L, chị Nguyễn Thị B được xác lập trên cơ sở tự nguyện, nội dung phù hợp với quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội. Giấy nhận nợ ông C cung cấp thể hiện nội dung: “ông Bùi Văn C là người cho vay, anh Lê Văn L, số chứng minh nhân dân 135098673, chị B số chứng minh nhân dân 135072378 là người vay…có nhận nợ ông Bùi Văn C số tiền gốc và lãi tính đến ngày 12/5/2012 là 446.000.000 đồng. Vợ chồng tôi xin hứa sẽ trả dần gốc còn lãi suất trả ông theo lãi suất ngân hàng..”. Giấy nhận nợ do anh L, chị B ký bên người vay, ông C ký bên người cho vay và có người làm chứng là ông Lê Văn N (là chú ruột anh L) ký công nhận biên bản trên là đúng sự thật. Quá trình vay tiền vợ chồng anh L, chị B không thế chấp, cầm cố tài sản để vay tiền nên không xem xét. Đến nay vợ chồng anh L, chị B vẫn không trả cho ông Chương gốc cũng như lãi. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Lê Văn L và chị Nguyễn Thị B phải trả cho ông C số tiền 446.000.000 đồng. Ông C không yêu cầu tính lãi nên không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí; hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho ông C.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 26, 35, 39, 147, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn C Buộc anh Lê Văn L và chị Nguyễn Thị B phải chịu trách nhiệm trả nợ cho ông Bùi Văn C số tiền 446.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành án theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2.Về án phí: Anh Lê Văn L và chị Nguyễn Thị B phải chịu 21.840.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho ông Bùi Văn C số tiền 10.000.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0003941 ngày 06/9/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

47
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp kiện đòi tài sản số 06/2023/DS-ST

Số hiệu:06/2023/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Xuyên - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 07/07/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về