TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
BẢN ÁN 368/2024/DS-ST NGÀY 28/11/2024 VỀ TRANH CHẤP HỤI, VAY TÀI SẢN
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 583/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hụi, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 461/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Mỹ C, sinh năm: 1981 (có mặt) Địa chỉ cư trú: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
Ông Võ Minh T (Võ Văn T1), sinh năm: 1983 (vắng mặt)
Bà Nguyễn Huyền T2, sinh năm: 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bà Trần Mỹ C trình bày:
Ngày 10/3/2019, bà mở dây hụi 3.000.000 đồng, có 28 chưng, hụi khui 01 lần/tháng, ông T1 và bà T2 tham gia 01 chưng, đến kỳ thứ 05 ông T1 và bà T2 hốt hụi, bà chung tiền hụi đầy đủ. Sau khi hốt hụi ông T1 và bà T2 đóng tiền hụi không đầy đủ, còn nợ 02 lần = 6.000.000 đồng.
Ngày 27/8/2020, bà cho ông T1 và bà T2 vay số tiền 20.000.000 đồng; đến ngày 27/7/2021 bà cho ông T1 và bà T2 vay tiếp số tiền 20.000.000 đồng; hai lần vay này có làm biên nhận. Ngày 20/5/2021 bà cho ông T1 và bà T2 vay số tiền 22.500.000 đồng, lần vay này không làm biên nhận.
Do ông T1 và bà T2 chưa trả, nên tại đơn khởi kiện bà yêu cầu ông T1 và bà T2 trả số tiền hụi, tiền vay và tiền lãi vay với tổng số tiền 97.500.000 đồng.
Tại phiên toà bà thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà chỉ yêu cầu ông T1 và bà T2 trả số tiền hụi 6.000.000 đồng và số tiền vay 40.000.000 đồng, tổng số tiền 46.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi. Đối với số tiền vay 22.500.000 đồng do không có biên nhận, nên bà không đặt ra yêu cầu, khi nào có căn cứ bà sẽ khởi kiện sau.
Đối với ông Võ Minh T và bà Nguyễn Huyền T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Bị đơn cư trú tại huyện T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Ông Võ Minh T và bà Nguyễn Huyền T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T và bà T2.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Bà Trần Mỹ C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T và bà T2 trả tiền hụi chết còn nợ là 6.000.000 đồng và số tiền vay 40.000.000 đồng. Xét thấy, việc ông T và bà T2 có tham gia chơi hụi và vay tiền của bà C là có thật thể hiện tại giấy giao kèo hùn vốn ngày 10/3/2019, danh sách các thành viên trong tổ hùn vốn và các biên nhận nợ tiền ngày 27/8/2020, ngày 27/7/2021. Toà án đã tống đạt và thông báo cho ông T và bà T2 biết việc nguyên đơn yêu cầu trả số tiền hụi và tiền vay nhưng ông T và bà T2 không có văn bản thể hiện ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn nên tự gánh chịu thiệt hại.
Mặt khác tại hai “biên nhận nợ” nguyên đơn cung cấp cho Toà án có nội dung “… Ngày 27/8/2020 Nguyễn Huyền T2 có hỏi chị Mỹ C số tiền 20.000.000 đồng; Ngày 27/7/2021 Nguyễn Huyền T2 có hỏi chị Mỹ C số tiền 20.000.000 đồng…” giấy nợ có chữ ký của ông T và bà T2. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên tổng số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn: 46.000.000 đồng x 5% = 2.300.000 đồng. Số tiền nguyên đơn tạm ứng án phí được nhận lại.
[5] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468, 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Mỹ C về việc yêu cầu ông Võ Minh T và bà Nguyễn Huyền T2 trả tiền hụi, tiền vay.
Buộc ông Võ Minh T và bà Nguyễn Huyền T2 có nghĩa vụ trả cho bà Trần Mỹ C số tiền 46.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Minh T và bà Nguyễn Huyền T2 phải chịu 2.300.000 đồng. Số tiền tạm ứng án phí bà Trần Mỹ C đã nộp 2.438.000 đồng theo biên lai thu số 0005196 ngày 21/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại.
3. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hụi, vay tài sản số 368/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 368/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 28/11/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về