Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 93/2024/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐÔNG THÁP

BẢN ÁN 93/2024/DS-PT NGÀY 07/03/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Trong ngày 21, 29/02/2024 và ngày 07/3/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 385/2023/TLPT-DS ngày 22/11/2023 vê viêc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 83/2023/DS-ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo.

Theo Quyêt định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diên ủy quyên của chị Nguyễn Thị Kim P là Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số 47, đường N, Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (theo Hợp đồng ủy quyên ngày 15/01/2024).

2. Bị đơn:

- Chị Võ Thị Ngọc L, sinh năm 1982.

- Anh Hà Thanh P, sinh năm 1981.

Cung địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

1 Người đại diên ủy quyên của anh Hà Thanh P, chị Võ Thị Ngọc L: Ông Trần Thanh H, sinh năm 1963 (theo Hợp đồng ủy quyên ngày 04/3/2024).

4. Người kháng cáo: Chị Võ Thị Ngọc L.

Có mặt: Chị Nguyễn Thị Thanh T, chị Võ Thị Ngọc L, ông Trần Thanh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN Nguyên đơn Nguyễn Thị Kim P, đại diện ủy quyền chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Chị Võ Thị Ngọc L và anh Hà Thanh P có vay của chị Nguyễn Thị Kim P nhiêu lần, cụ thê:

- Từ ngày 06/3 đên 08/3/2022, chị L, anh P vay của chị P nhiêu lần với tổng số tiên là 700.000.000 đồng. Đên ngày 05/4/2022, chị L, anh P đã trả khoản tiên vay nêu trên cho chị P xong.

- Ngày 20/3/2022, chị L, anh P có vay của chị P số tiên 350.000.000 đồng, với hình thức chuyên khoản.

- Ngày 13/4/2022, ngày 14/4/2022, chị L, anh P vay của chị P nhiêu lần với tổng số tiên là 1.450.000.000 đồng (có làm Biên nhận do chị L ký tên).

- Ngày 17/4/2022, chị L, anh P vay của chị P 650.000.000 đồng (có làm Biên nhận do chị L, anh P ký tên). Ngày 29/8/2022 và ngày 30/8/2022, chị L, anh P đã trả cho chị P 500.000.000 đồng, còn lại số tiên 150.000.000 đồng.

Đối với các khoản vay nêu trên, chị P và chị L, anh P đêu thỏa thuận lãi suất 1,66%/tháng, không xác định thời hạn trả, khi chị P cần thì thông báo cho chị L, anh P biêt và trả nợ cho chị P. Tuy nhiên, chị P đã nhiêu lần yêu cầu chị L, anh P trả các khoản vay nhưng đên nay chị L, anh P không trả.

Ngoài ra, chị L có tham gia 01 dây hụi do chị P làm chủ. Hụi 5.000.000đồng/tháng, mở hụi ngày 04/9/2022, gồm 20 hụi viên. Ngày 04/11/2022, chị L lãnh hụi với số tiên 83.300.000 đồng, chị P đã trừ 80.000.000 đồng tiên hụi đã lãnh vào tiên lãi của các khoản vay khác không liên quan trong vụ án này, còn lại 3.300.000 đồng chị P đã giao chị L xong.

Nay chị P yêu cầu: chị L và anh P liên đới trả số tiên gốc là 1.950.000.000 đồng và tiên lãi tính từ ngày 30/10/2022 - 29/6/2023 là 08 tháng x lãi suất 1,66%/tháng = 258.960.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 2.208.960 đồng.

Bị đơn chị Võ Thị Ngọc L, anh Hà Thanh P; anh P ủy quyền cho chị L trình bày: chị L có quen biêt chị P do chị P ở đối diên nhà chị L nên chị L, anh P có vay của chị P nhiêu lần, với mức lãi suất 4%/tháng, cụ thê:

- Từ ngày 06/3 đên ngày 08/3/2022 chị L, anh P có vay nhiêu lần với tổng số tiên là 700.000.000 đồng. Đên ngày 05/4/2022, chị L đã trả khoản vay nêu trên cho chị P xong.

- Ngày 20/3/2022 chị L, anh P có vay của chị P 350.000.000 đồng, khoản vay này chị L, anh P đã trả cho chị P xong.

- Ngày 13/4, ngày 14/4/2022, chị L, anh P vay của chị P nhiêu lần với tổng số tiên là 1.450.000.000 đồng, có làm Biên nhận do chị L ký tên.

- Ngày 17/4/2022, chị L, anh P vay của chị P số tiên là 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triêu đồng), có làm Biên nhận do chị L, anh P ký tên. Ngày 29/8/2022, chị L, anh P đã trả cho chị P số tiên gốc 250.000.000 đồng; ngày 30/8/2022 tiêp tục trả số tiên gốc 250.000.000 đồng, tổng cộng là 500.000.000 đồng (Năm trăm triêu đồng), còn lại số tiên gốc là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triêu đồng).

Ngoài ra, chị L có tham gia 01 dây hụi do chị P làm chủ. Hụi 5.000.000 đồng/tháng, mở hụi ngày 04/9/2022, gồm 20 hụi viên. Ngày 04/11/2022, chị L lãnh hụi với số tiên 83.300.000 đồng, chị P chỉ giao cho chị L số tiên 3.300.000 đồng, chị P giữ lại số tiên 80.000.000 đồng đê trừ vào tiên gốc của các khoản vay nêu trên.

Như vậy, chị L, anh P vay của chị P tổng số tiên là 2.800.000.000 đồng, đã trả số tiên 1.280.000.000 đồng, còn lại số tiên 1.520.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm hai mươi triêu đồng).

Nay, chị Võ Thị Ngọc L, anh Hà Thanh P đồng ý trả cho chị Nguyễn Thị Kim P số tiên 1.520.000.000 đồng và tiên lãi theo quy định pháp luật.

Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2023/DS-ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện C đã quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiên của chị Nguyễn Thị Kim P.

Buộc chị Võ Thị Ngọc L và anh Hà Thanh P liên đới trả cho chị P số tiên gốc là 1.870.000.000 đồng và tiên lãi là 124.279.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 1.994.279.000 đồng (Một tỷ chín trăm chín mươi bốn triêu hai trăm bảy mươi chín nghìn đồng).

2. Không chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim P vê viêc yêu cầu chị Võ Thị Ngọc L và anh Hà Thanh P liên đới trả cho chị P số tiên gốc là 80.000.000 đồng và tiên lãi là 134.681.000. Tổng cộng gốc và lãi là 214.681.000 đồng (Hai trăm mười bốn triêu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng).

Kê từ ngày tiêp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đên khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiên lãi của số tiên phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điêu 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Tiêp tục duy trì Quyêt định áp dụng biên pháp khẩn cấp tạm thời, số:

01/2023/QĐ-BPKCTT ngày 09/01/2023 vê viêc áp dụng biên pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đê đảm bảo thi hành án.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Võ Thị Ngọc L và anh Hà Thanh P phải chịu là 71.828.000 đồng (Bảy mươi mốt triêu tám trăm hai mươi tám nghìn đồng).

Chị Nguyễn Thị Kim P phải chịu là 10.734.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiên tạm ứng án phí đã nộp là 38.800.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lê phí Tòa án án số 0014930, ngày 16/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Hoàn trả cho chị P số tiên 28.066.000 đồng.

- Sau khi án sơ thẩm xử, ngày 10/7/2023 bị đơn Võ Thị Ngọc L kháng cáo yêu cầu xem xét lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim P, đại diên ủy quyên chị Nguyễn Thị Thanh T không đồng ý yêu cầu kháng cáo của chị L, đê nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

+ Bị đơn chị L, ông Phong vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, không đồng ý trả số tiên vay ngày 20/3/2022 là 350.000.000 đồng.

- Đại diện Viện kiêm sát nhân dân Tinh phát biêu ý kiến:

+ Vê tố tụng: Người tiên hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiên đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyêt vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.

+ Vê nội dung: Đê nghị không chấp nhận kháng cáo của chị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liêu có trong hồ sơ vụ án đã được kiêm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kêt quả tranh tụng tại phiên tòa và đê nghị của vị đại diên Viên kiêm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Viêc vay tiên giữa chị P và chị L là có thật. Từ tháng 3/2022, chị P có cho chị L vay tiên nhiêu lần. Các ngày 13, 14 và 17/4/2022, chị L vay tổng số tiên 2.100.000.000 đồng, đã trả 500.000.000 đồng và trừ tiên hụi 80.000.000 đồng, chị L đồng ý tiêp tục trả 1.520.000.000 đồng. Hai bên chỉ tranh chấp số tiên vay 350.000.000 đồng vào ngày 20/3/2022. chị L kháng cáo không đồng ý trả số tiên vay 350.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét các căn cứ kháng cáo của chị L:

[1] Hai bên thừa nhận, ngày 20/3/2022 chị P cho chị L vay 350.000.000 đồng. chị P chuyên tiên vào tài khoản số 070048910X tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, chủ tài khoản Trần Hoàng V do chị L cung cấp.

[2] Tại phiên tòa ngày 29/02/2024, chị L trình bày ngày 05/4/2022, đã trả cho chị P 700.000.000 đồng là trả hêt tiên vay, kê cả 350.000.000 đồng vay ngày 20/3/2022. chị L nêu ra căn cứ là biên nhận nợ 700.000.000 đồng đê tổng kêt lại những khoản tiên còn nợ đê trả vào ngày 05/4/2022.

Xét biên nhận nợ 700.000.000 đồng, hai bên thống nhất chị L ghi nội dung, khi ghi biên nhận không ghi ngày. chị P thừa nhận sau này mới ghi ngày, ban đầu ghi 08/4/2022 là nhầm lẫn, sau khi kiêm tra kỹ đã sửa thành 08/3/2022.

chị L không đồng ý biên nhận được ghi vào ngày 08/3/2022, nhưng không xác định được ngày ghi biên nhận nợ, không chứng minh được biên nhận viêt sau khoản vay 350.000.000 đồng ngày 20/3/2022 hay có nội dung tổng kêt nợ đê trả vào ngày 05/4/2022.

Xét biên nhận có chỉnh sửa từ ngày 08/4/2022 thành ngày 08/3/2022, nêu ghi ngày 08/4/2022 là sau ngày chị L trả 700.000.000 đồng (ngày 05/4/2022), cũng không chứng minh được lời trình bày của chị L. Mặt khác, nêu ghi tháng 4 là chị L có khoản vay khác vào ngày 08/4/2022. Cho nên, chị P thừa nhận biên nhận nợ ngày 08/3/2024 là có cơ sở và có lợi cho chị L.

Như vậy, viêc chị L xuất trình biên nhận nợ 700.000.000 đồng là không có căn cứ đê Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 07/3/2024, ông Trần Thanh H là người đại diên theo ủy quyên của chị L cho rằng ngày 20/3/2022 chị L vay 350.000.000 đồng và trước đó có vay 110.000.000 đồng, nên ngày 25/3/2022 đã trả 470.000.000 đồng. Trình bày này của ông H không được chị T là người đại diên theo ủy quyên của chị P thừa nhận. Mặc du, ngày 25/3/2022 chị P có nhận của chị L số tiên 470.000.000 đồng nhưng không ghi rõ nội dung trả khoản nợ nào, trong khi ngày 24/3/2022 chị L có hỏi vay thêm 200.000.000 đồng, cộng với 350.000.000 đồng là 550.000.000 đồng, không trung khớp với số tiên 470.000.000 đồng. Tóm lại, chị L không chứng minh được số tiên vay 110.000.000 đồng, viêc trả tiên cho các khoản vay nào, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận.

[4] chị L cho rằng các lần vay tiên và trả tiên đêu có ghi vào một quyên sổ do chị P quản lý. Tuy nhiên, chị L không cung cấp được quyên sổ đê Hội đồng xét xử xem xét.

[5] Ngược lại, Hội đồng xét xử xét thấy chị P và chị L có thiêt lập hợp đồng vay thông qua tin nhắn trên zalo. Các bên thừa nhận tên zalo “Ka ka H” là tài khoản zalo của chị L. Ảnh chụp màn hình nhắn tin zalo từ bút lục số 22 – 60 là tin nhắn giữa chị P và chị L.

Tại bút lục số 35, 36 thê hiên ngày 05/4/2022 chị L đã trả cho chị P 700.000.000 đồng bằng 02 lần chuyên khoản. Cung ngày chị P có tin nhắn “tiên lời 24tr”, “Vậy e còn 350tr”, chị L trả lời “dạ chị”. Như vậy, ngày 05/4/2022, sau khi trả xong số tiên 700.000.000 đồng chị L vẫn xác nhận nợ của chị P 350.000.000 đồng. Tại bút lục số 49 ngày 06/6/2022, hai bên tổng kêt nợ “vốn 2.450tỷ”. Tại bút lục số 53 ngày 26/8/2022 chị P có gửi hình chụp ghi nợ: Phần 350tr 5 tháng 52.500.000 đồng, phần 2 tỷ1 lãi 4,5 tháng 283.500.000 đồng, tổng cộng 2.786.000.000 đồng, là đúng với thời gian vay tiên vào ngày 20/3/2022 và ngày 13, 14 và 17/4/2022. Tại bút lục số 55, 56, 57 tin nhắn ngày 08/9/2022 chị L gửi lại hình chụp ghi nợ nêu trên với tin nhắn “Vậy tổng đây phải không chị”, “vậy chị lấy cái tổng đó trừ ra 500tr dum e”.

Như vậy, đên ngày 08/9/2022 chị L vẫn thừa nhận nợ chị P tổng số tiên gốc 2.450.000.000 đồng, bao gồm 350.000.000 đồng vay ngày 20/3/2022 và 2.100.000.000 đồng vay vào các ngày 13,14 và 17/4/2022. Đã trả 500.000.000 đồng còn 1.950.000.000 đồng, tại Tòa án tiêp tục cấn trừ tiên hụi 80.000.000 đồng, còn lại tiên nợ gốc là 1.870.000.000 đồng là phu hợp với yêu cầu khởi kiên của nguyên đơn. Từ sau ngày 08/9/2022, chị L không trả cho chị P số tiên nào khác.

[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy chị Võ Thị Ngọc L kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liêu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiên buộc chị L và anh P liên đới trả cho chị P số tiên gốc là 1.870.000.000 đồng và tiên lãi là 124.279.000 đồng là phu hợp. Nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án huyện C.

[7] Tuy nhiên, phần quyêt định của bản án tuyên nội dung tính lãi chậm thực hiên nghĩa vụ là chưa phu hợp nên điêu chỉnh cách tuyên nhằm đảm bảo bản án được thuận lợi khi thi hành.

[8] Đại diên Viên kiêm sát tỉnh Đồng Tháp đê nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm là phu hợp nên chấp nhận.

[9] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiêu lực kê từ ngày hêt thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[10] Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm, nên chị Võ Thị Ngọc L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điêu 148 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điêu 148, Khoản 1 Điêu 308, Điêu 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyêt số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định vê mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lê phí Tòa án;

Tuyên xư:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Võ Thị Ngọc L.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 83/2023/DS-ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện C.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiên của chị Nguyễn Thị Kim P.

Buộc chị Võ Thị Ngọc L và anh Hà Thanh P liên đới trả cho chị P số tiên gốc là 1.870.000.000 đồng và tiên lãi là 124.279.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 1.994.279.000 đồng (Một tỷ chín trăm chín mươi bốn triêu hai trăm bảy mươi chín nghìn đồng).

2. Không chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim P vê viêc yêu cầu chị Võ Thị Ngọc L và anh Hà Thanh P liên đới trả cho chị P số tiên gốc là 80.000.000 đồng và tiên lãi là 134.681.000. Tổng cộng gốc và lãi là 214.681.000 đồng (Hai trăm mười bốn triêu sáu trăm tám mươi mốt nghìn đồng).

Kê từ ngày bản án có hiêu lực pháp luật, người được thi hành án có quyên yêu cầu thi hành án mà người có nghĩa vụ chậm thực hiên nghĩa vụ của mình thì hằng tháng phải chịu khoản tiên lãi của số tiên còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điêu 357 và Điêu 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Tiêp tục duy trì Quyêt định áp dụng biên pháp khẩn cấp tạm thời, số:

01/2023/QĐ-BPKCTT ngày 09/01/2023 vê viêc áp dụng biên pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đê đảm bảo thi hành án.

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Võ Thị Ngọc L và anh Hà Thanh P phải chịu là 71.828.000 đồng (Bảy mươi mốt triêu tám trăm hai mươi tám nghìn đồng).

Chị Nguyễn Thị Kim P phải chịu là 10.734.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiên tạm ứng án phí đã nộp là 38.800.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lê phí Tòa án án số 0014930, ngày 16/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Hoàn trả cho chị P số tiên 28.066.000 đồng.

5. Vê án phí dân sự phúc thẩm: Bà Võ Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng tiên án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.00 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004258 ngày 26/7/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C.

6. Trường hợp bản án, quyêt định được thi hành theo quy định tại Điêu 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyên thỏa thuận thi hành án, quyên yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chê thi hành án theo quy định tại các Điêu 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiêu thi hành án được thực hiên theo quy định tại Điêu 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiêu lực pháp luật kê từ ngày tuyên án./. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

40
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 93/2024/DS-PT

Số hiệu:93/2024/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 07/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về