Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 90/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 90/2024/DS-ST NGÀY 06/06/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Q xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 160/2023/TLST- DS ngày 30 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-DS ngày 06/3/2024; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 9a/2024/TB-TA ngày 3/4/2024, Thông báo v/v mở lại phiên tòa số 11/2024/TB-TA ngày 22/4/2024; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 12/2024/TB-TA ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện D giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Công H, sinh năm 1965. Vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1969. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn Phú Bông, xã Duy Trinh, huyện D, tỉnh Q.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Bùi Anh N1, sinh năm 1976. Có mặt.

Địa chỉ: Khối phố Mỹ Xuyên, thị trấn N1 Phước, huyện D, tỉnh Q.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1978. Vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1982. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn Trung Đông, xã Duy Trung, huyện D, tỉnh Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời trình bày tiếp theo tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Bùi Anh N1 trình bày:

Ngày 20/10/2019, ông B và M có đến nH và vay của ông H, bà H1 số tiền là 132.000.000 đồng để giải quyết việc gia đình, hẹn ngày 10/01/2020 âm lịch sẽ trả đủ. Tuy nhiên, ông H và bà H1 đã nhiều lần đòi nợ nhưng ông B, bà M vẫn không trả. Nay, ông H và bà H1 khởi kiện yêu cầu ông B, bà M có nghĩa vụ trả cho ông H, bà H1 số tiền là 132.000.000 đồng (Một trăm ba mươi hai triệu đồng).

Bị đơn ông Nguyễn Thanh B, bà Nguyễn Thị M trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng ông bà cố tình trốn tránh. Ông B cố tình che dấu địa chỉ và cả 2 không có mặt tại Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa.

Bà Nguyễn Thị M đã cung cấp lời khai cho Tòa án vào ngày 22/02/2024 như sau: Ngày 20/10/2019, vợ chồng ông B, bà M có vay của vợ chồng ông H, bà H1 số tiền là 132.000.000 đồng, hai bên có viết giấy mượn tiền lập ngày 20/10/2019. Bà M thừa nhận chữ ký ở người mượn tiền là chữ ký, chứ viết của ông Nguyễn Thanh B và bà Nguyễn Thị M. Từ ngày 30/02/2020 âm lịch đến ngày 11/3/2021 âm lịch, vợ chồng bà M, ông B đã trả cho vợ chồng ông H, bà H1 số tiền là 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) nhưng không có giấy tờ gì để chứng minh về số tiền đã trả. Ông B hiện làm bảo vệ, không có địa chỉ cụ thể, hoàn cảnh vợ chồng hiện nay khó khăn. Nay, ông H và bà H1 khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà phải trả số tiền 132.000.000 đồng (Một trăm ba mươi hai triệu đồng) thì bà M thống nhất trả nợ.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Q phát biểu về phần thủ tục và nội dung vụ án như sau:

Về phần thủ tục, Tòa án đã tuân thủ đúng, đầy đủ các thủ tục theo luật định.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông B, bà M có trách nhiệm trả nguyên đơn số tiền nợ là 132.000.000 đồng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

+ Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Thanh B có hộ khẩu tH1 trú tại thôn Trung Đông, xã Duy Trung, huyện D, tỉnh Q nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; xác định đây là vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng vay tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Q.

+ Về trình tự giải quyết vụ án: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi thông báo thụ lý vụ án cho các đương sự và Viện kiểm sát nhân dân huyện D theo đúng thời hạn luật định. Đồng thời, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tiếp theo như thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ cho các đương sự; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa, thông báo thay đổi thời gian xét xử, thông báo mở lại phiên tòa cho các đương sự. Do bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Thanh B cố tình trốn tránh và che dấu địa chỉ ông B nên Tòa án không thể tống đạt các thông báo và các quyết định trên cho ông B; tuy nhiên ông B và bà M có quan hệ hôn nhân hợp pháp nên bà M có nghĩa vụ thông báo cho ông B biết sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Tòa án cũng đã tiến hành xác minh tại địa phương và tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Mặc dù Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bà M, ông B đều vắng mặt, không có lý do nên căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung vụ án:

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp là 01 (một) tờ giấy mượn tiền lập ngày 20/10/2019 với nội dung: ông Nguyễn Thanh B có vay của bà Nguyễn Thị H1 (Cúc) và ông Trần Công H số tiền là 132.000.000 đồng (một trăm ba mươi hai triệu đồng) để giải quyết công việc gia đình. Ngày mượn: 20/10/2019. Ngày trả: 10/01/2020 âm lịch. Dưới người mượn tiền có chữ ký, chữ viết Nguyễn Thanh B.

Ngày 22/02/2024, Tòa án lấy lời khai của bà Nguyễn Thị M thì bà M cũng xác nhận vợ chồng bà M, ông B có vay của vợ chồng ông H, bà H1 số tiền là 132.000.000 đồng. Trong giấy mượn tiền, các bên không có thỏa thuận về lãi suất cho vay. Sau khi vay tiền đến hạn trả nợ thì bà M cho rằng vợ chồng bà đã trả cho ông H, bà H1 số tiền là 35.000.000 đồng, ông H, bà H1 cho vay nóng với lãi suất cao nhưng bà M, ông B đã không cung cấp cho Tòa án chứng cứ gì để chứng minh về số tiền đã trả và lãi suất cho vay nên không có cơ sở để HĐXX chấp nhận. Bà M thống nhất vợ chồng bà sẽ cho ông H, bà H1 số tiền 132.000.000 đồng nhưng do điều kiện khó khăn nên khi nào có tiền thì vợ chồng bà sẽ trả.

Như vậy, việc ký kết vay mượn tiền giữa nguyên đơn với bị đơn là hình thức giao dịch về dân sự trên cơ sở tự nguyện, bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là vi phạm cam kết giữa hai bên. Xét giao dịch giữa nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn phù hợp theo qui định, nên phát sinh hiệu lực pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh B và bà Nguyễn Thị M phải trả cho nguyên đơn ông Trần Công H và bà Nguyễn Thị H1 số tiền gốc là 132.000.000đ (Một trăm ba mươi hai triệu đồng); nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả lãi suất, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Thanh B, bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho nguyên đơn tiền án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tạm ứng trước đây.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; và các Điều 91, 93, 94, 95, 96, 147, 227 và Điều 273  Bộ luật tố tụng dân sự 2015  ;

- Căn cứ các Điều 278, 280 và khoản 2 Điều 468, khoản 2 Điều 357  Bộ luật   d ân sự 201 5;  

- Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban TH1 Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

[1]. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Công H và bà Nguyễn Thị H1.

[2]. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị M và ông Trần Công H phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 132.000.000 đồng (Một trăm ba mươi hai triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi Hnh án chủ động ra quyết định thi Hnh án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi Hnh án của người được thi Hnh án cho đến khi thi Hnh án xong tất cả các khoản tiền, người phải thi Hnh án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn qui định tại khoản 2 Điều 468, khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

[3]. Về án phí: Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh B và bà Nguyễn Thị M liên đới phải chịu là: 6.600.000 đồng (sáu triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho nguyên đơn ông Trần Công H, bà Nguyễn Thị H1 số tiền:

3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 2712 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện D, tỉnh Q.

[4]. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Q xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Quyết định, bản án được thi Hnh theo Điều 2 của  Lu ật Thi Hnh  án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thoả thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo qui định tại các Điều 6, 7và Điều 9 của Luật Thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luât Thi Hnh án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

111
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 90/2024/DS-ST

Số hiệu:90/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Duy Xuyên - Quảng Nam
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:06/06/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về