TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
BẢN ÁN 83/2024/DS-ST NGÀY 23/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 284/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024 về việc "tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 134/2024/QĐST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1958; Địa chỉ: số B, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1970 (vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Kim D, sinh năm: 1967 (vắng mặt). Cùng địa chỉ: Số B, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện ngày 23/4/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Lê Văn L trình bày: Vào năm 2022, ông L có cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kim D vay số tiền là 35.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, mục đích ông T và bà D vay tiền là để chuộc lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp cho người khác về để chuyển nhượng đất cho ông L một nền nhà để lấy tiền trả số tiền mua phân và thuốc trừ sâu đang thiếu con của ông L là Lê Văn H. Nhưng vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kim D sau khi chuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về thì do diện tích đất là đất trồng cây lâu năm không đủ diện tích tách thửa nên đã không làm thủ tục sang tên cho ông L được nên việc chuyển nhượng đất không thực hiện được. Sau khi không thực hiện được việc chuyển nhượng đất thì ông T và bà D không trả cho ông L số tiền đã vay là 35.000.000 đồng và tiền lãi.
Đến ngày 13/8/2022, vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kim D đã tự nguyện làm biên nhận thế chấp cho ông L 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH05646, thửa đất 121, tờ bản đồ số 51, tổng diện tích 218,7 m2 mang tên hộ ông Nguyễn Văn T và hứa đến hạn chậm nhất là tháng 03 năm 2023 là trả hết số tiền vay cho ông L và tiền thiếu anh H thì ông L trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kim D, nhưng cho đến nay ông T và bà D cũng không chịu trả số tiền nợ cho ông L theo thỏa thuận.
Nay ông L yêu cầu vợ chồng bà D và ông T có nghĩa vụ trả số tiền vay gốc là 35.000.000 đồng và lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 13/8/2022 tạm tính đến ngày hôm nay là 13/8/2024 là 24 tháng với số tiền là 8.400.000 đồng, tổng cộng vốn lãi là 43.400.000 đồng. Đối với giấy chứng nhận bản chính hiện nay ông L đang giữ thì ông L sẽ tự nguyện trả lại cho ông T và bà D.
Do vợ chồng bà D và ông T đã hứa hẹn nhiều lần nhưng không trả nên nay ông L không đồng ý cho vợ chồng bà D đến tháng 9/2024 mới trả như phía bà D và ông T yêu cầu. Ông L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà D và ông T phải có nghĩa vụ trả đủ số tiền vay cho ông L.
2.2. Ý kiến bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kim D trong quá trình giải quyết vụ án cùng trình bày:
Thừa nhận vợ chồng bà D và ông T có vay của ông Lê Văn L số tiền 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng), mục đích vay là để chuộc lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH05646, thửa đất 121, tờ bản đồ số 51, tổng diện tích 218,7 m2 mang tên hộ ông Nguyễn Văn T mà con của ông bà đã thế chấp cho bà Thanh S. Việc vợ chồng bà D chuộc giấy đất về là để chuyển nhượng cho ông L một nền nhà thuộc một phần thửa đất số 121 nêu trên để trả số tiền mà vợ chồng bà D, ông T đang thiếu tiền mua phân và thuốc trừ sâu tại cửa hàng N do con của ông L là Lê Văn H làm chủ và trả số tiền vay cho ông L. Tuy nhiên, sau khi chuộc giấy đất về thì ông L không đồng ý mua nữa nên chưa có tiền trả cho ông L và anh H. Vào ngày 13/8/2022, vợ chồng bà D, ông T có làm tờ Biên nhận thế chấp tài sản cam kết đến hết tháng 3/2023 thì vợ chồng bà D, ông T sẽ trả cho ông L tổng số tiền là 251.698.000 đồng, trong đó tiền thiếu ông L là 35.000.000 đồng và tiền thiếu mua thuốc và phân bón cho anh Lê Văn H là 216.698.000 đồng và giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L giữ. Tuy nhiên, đến nay vợ chồng bà D, ông T vẫn chưa trả được số tiền cho ông L và anh H. Nay ông L yêu cầu vợ chồng bà D và ông T có nghĩa vụ trả số tiền vay gốc là 35.000.000 đồng và lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 13/8/2022 thì bà D, ông T đồng ý trả nhưng bà D, ông T yêu cầu cho vợ chồng bà D, ông T đến tháng 09/2024 mới trả cho ông L. Còn giấy chứng nhận bản chính được UBND huyện L cấp giấy số giấy BT 668020, vào sổ cấp GCN CH05646 thửa 121, tờ bản đồ số 51 cho hộ ông Nguyễn Văn T vào ngày 22/7/2014 hiện nay ông L đang giữ thì khi nào trả xong các khoản nợ cho ông L, ông H thì ông L phải trả lại giấy cho bà D. Nếu ông L không đồng ý cho đến tháng 09/2024 mới trả thì tùy theo Tòa án quyết định.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm và Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng tư cách đương sự và quan hệ tranh chấp. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa. Riêng bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập để đến Tòa án tham gia phiên tòa nhưng đã vắng mặt đến lần thứ hai mà không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn là phù hợp pháp luật.
Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay còn nợ nên quan hệ tranh chấp được xác định là "Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản". Bị đơn có hộ khẩu và cư trú tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò theo quy định tại khoản 3, Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về yêu cầu trả nợ gốc: Ông Lê Văn L cho rằng ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kim D có vay của ông L số tiền 35.000.000 đồng. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông T và bà D thừa nhận có vay của ông L số tiền là 35.000.000 đồng như ông L trình bày và đến nay chưa trả cho ông L. Sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Do đó, ông L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông T và bà D phải có nghĩa vụ trả số tiền vay gốc là 35.000.000 đồng là có căn cứ để chấp nhận.
Còn phía ông T và bà D cũng đồng ý trả cho ông L số tiền vay gốc là 35.000.000 đồng nhưng xin đến tháng 9/2024 mới trả toàn bộ tiền vốn lãi cho ông L. Việc ông T và bà D xin được đến tháng 9/2024 mới trả nợ nhưng ông L không đồng ý và không phù hợp pháp luật nên không được chấp nhận.
[2.2] Về yêu cầu tính lãi: Ông L yêu cầu phía ông T và bà D phải có nghĩa vụ trả tiền lãi từ ngày làm biên nhận là ngày 13/8/2022 đến ngày giải quyết xong vụ kiện (nhưng tính chẵn đến ngày 13/8/2024) với lãi suất là 1%/tháng. Quá trình giải quyết vụ án, phía ông T và bà D cũng đồng ý theo như yêu cầu của ông L. Như vậy, việc các bên thống nhất lãi suất 1%/tháng là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự nên chấp nhận. Như vậy số tiền lãi sẽ được tính là từ ngày 13/8/2022 đến ngày 13/8/2024 là 24 tháng, cụ thể: 35.000.000 đồng x 1% x 24 tháng là 8.400.000 đồng. Do đó, phía ông T và bà D phải trả cho ông L số tiền lãi là 8.400.000 đồng. Trường hợp sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và ông L có đơn yêu cầu thi hành án nhưng phía ông T và bà D chưa trả đủ số tiền cho ông L thì ông T và bà D còn phải chịu số tiền lãi chậm trả theo quy định của pháp luật.
[2.3] Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính được UBND huyện L cấp giấy số giấy BT 668020, vào sổ cấp GCN CH05646 thửa 121, tờ bản đồ số 51 cho hộ ông Nguyễn Văn T vào ngày 22/7/2014 hiện nay ông L đang giữ để đảm bảo cho số tiền mà ông T và bà D đang nợ ông L. Xét thấy việc các bên thỏa thuận giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp để đảm bảo khoản tiền vay là không đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, ông L đồng ý tự nguyện trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T và bà D là phù hợp pháp luật nên chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.
[4] Xét lời trình bày và đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L. Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kim D phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Văn L số tiền vay gốc là 35.000.000 đồng và tiền lãi là 8.400.000 đồng, tổng cộng vốn lãi là 43.400.000đ (Bốn mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Văn L trả lại cho ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kim D một giấy chứng nhận bản chính quyền sử dụng đất số giấy BT 668020, vào sổ cấp GCN CH05646 thửa 121, tờ bản đồ số 51 được UBND huyện L cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T vào ngày 22/7/2014 hiện nay ông L đang giữ.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Kim D phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.170.000đ (Hai triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng).
4. Các đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng đương sự vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 83/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 83/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Lấp Vò - Đồng Tháp |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 23/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về