TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
BẢN ÁN 70/2024/DS-ST NGÀY 16/07/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2024/TLST-DS ngày 07-3-2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1955; địa chỉ: số nhà 479 đường Nguyễn Văn L, ấp N, xã T, thị xã H, tỉnh T (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: chị Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1980; địa chỉ: số nhà 10 đường P, khu phố 1, phường 3, thành phố T, tỉnh T, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: ông Trần Hữu Đ, sinh năm 1967, bà Nguyễn Kim N, sinh năm 1969; cùng địa chỉ: số nhà 40, đường N, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh T (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Trần Thị Tuyết N trình bày:
Bà Trần Thị Đ khởi kiện yêu cầu ông Trần Hữu Đ và bà Nguyễn Kim N trả số tiền nợ vay 1.000.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Do có mối quan hệ chị em ruột, bà Đ là chị ruột của ông Đ, bà Nguyễn Kim N là vợ ông Đ, vào ngày 20-8-2023 bà Đ cho ông Đ và bà N vay số tiền 1.000.000.000 đồng thời hạn vay là 08 ngày với mục đích để đáo hạn ngân hàng. Do cho vay thời hạn ngắn nên lúc này bà Đ không yêu cầu ông Đ, bà N viết giấy mượn tiền. Sau khi hết thời hạn 8 ngày như thỏa thuận thì ông Đ không trả tiền lại bà cho Đạt và đề nghị với bà Đ cho vay thêm khoảng 2-3 tháng để có tiền mua bán bột mì, lúc này bà Đ cũng đồng ý cho ông Đ, bà N vay tiền thêm thời gian nữa và bà Đ có yêu cầu viết giấy mượn tiền và ghi ngày mượn tiền là ngày 20-8-2023 (ngày bà Đ giao tiền cho ông Đ), thời hạn ghi trong giấy mượn tiền là 20-10-2023 ông Đ, bà N phải trả lại tiền. Khi vay tiền hai bên thỏa thuận miệng lãi suất 2%/tháng nhưng không ghi cụ thể trong giấy mượn tiền. Sau khi vay tiền của bà Đ thì ông Đ, bà N chưa trả được khoản tiền nợ gốc và lãi nào. Hết thời hạn 02 tháng theo như thỏa thuận, bà Đ đã nhiều lần yêu cầu ông Đ trả tiền, ông Đ, bà N hứa hẹn bán tài sản để trả nợ cho bà Đ nhưng không thực hiện. Nay bà Đ khởi kiện yêu cầu ông Đ, bà N trả cho bà Đ số tiền nợ gốc là 1.000.0000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật kể từ ngày 20-8-2023.
Bị đơn ông Trần Hữu Đ trình bày:
Bà Đ là chị ruột của ông, khoảng tháng 3 năm 2023 ông vay của bà Đ 1.000.000.000 đồng mục đích là để cho anh T là em vợ của ông vay lại (ông Tân là em của bà Nguyễn Kim N), thời điểm này ông có viết giấy vay tiền với bà Đ còn anh T thì viết giấy vay tiền với ông. Khi cho vay hai bên thỏa thuận lãi là 1.000.000.000 đồng thì mỗi tháng anh T phải trả lãi là 60.000.000 đồng cho bà Đ, việc thỏa thuận lãi và trả lãi thì ông không có tài liệu chứng cứ chứng minh. Do hai bên đều là anh chị em ruột nên ông chỉ đứng ra làm trung gian vay dùm, bà Đ không tin tưởng anh T nên mới bắt ông viết giấy nợ với bà Đ. Ông vay dùm anh T nên mỗi lần anh T trả lãi là ông đưa lại đủ cho bà Đ, ông không hưởng chênh lệch tiền lãi giữa bà Đ và anh T. Sau khi vay tiền anh T làm ăn được nên đưa tiền cho ông để trả lãi hàng tháng cho bà Đ đầy đủ. Đến tháng 8-2023 anh T bị đổ nợ không trả lãi được cho bà Đ nên bà Đ bỏ giấy nợ cũ và yêu cầu ông cùng với vợ là bà Nguyễn Kim N ký lại giấy nợ mới với số tiền 1.000.000.000 đồng theo như giấy nợ bà Đ đã nộp cho Toà án. Giấy nợ này là do chị Nhung con gái của bà Đ viết, vợ chồng ông ký tên. Mặc dù ông vay tiền dùm cho anh T nhưng trong giấy ghi mục đích vay là để kinh doanh bột mỳ vì thực tế ông có lò mỳ vẫn đang hoạt động. Nay ông thừa nhận còn nợ của bà Đ số tiền 1.000.000.000 đồng theo như bà Đ khởi kiện và đồng ý trả cho bà Đ số tiền này và tiền lãi theo quy định của pháp luật kể từ ngày 20-8-2023. Còn giữa ông với anh T thì để ông tự xử lý riêng, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Bị đơn bà Nguyễn Kim N vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H phát biểu ý kiến:
1/Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa:
Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thư ký đã thực hiện đúng quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự.
2/Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:
Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
3/Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, 468 của BLDS; Nghị quyết 326 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án. Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã H: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ đối với ông Đ, bà N về tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc ông Đ, bà N phải trả cho bà Đ số tiền nợ vay gốc là 1.000.000.000 đồng và lãi suất 0,83%/tháng từ ngày vay đến ngày xét xử.
Về án phí: đề nghị tính án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: chị Trần Thị Tuyết N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Trần Hữu Đ, bà Nguyễn Kim N được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đ yêu cầu ông Trần Hữu Đ, bà Nguyễn Kim N trả số nợ vay 1.000.000.000 đồng thì thấy rằng: nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất thừa nhận ngày 20-8-2023 vợ chồng ông Đ, bà N có ký giấy vay của bà Đ số tiền 1.000.000.000 đồng. Mặc dù mục đích vay tiền hai bên trình bày không giống nhau, tuy nhiên ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết về mối quan hệ vay tiền giữa ông và anh T (em vợ của ông) và quá trình làm việc ông Đ đồng ý trả số tiền 1.000.000.000 đồng này cho bà Đ nên ghi nhận. Còn riêng bà Nguyễn Kim N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt xem như là từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ, buộc ông Đ, bà Nguyễn Kim N trả cho bà Đ số tiền nợ vay gốc là 1.000.000.000 đồng.
[3] Xét yêu cầu tính lãi của bà Đ đối với khoản nợ gốc 1.000.000.000 đồng theo quy định của pháp luật thì thấy rằng: Nguyên đơn trình bày khi cho vay hai bên thỏa thuận lãi suất là 2%/tháng, bị đơn ông Đ cho rằng đã trả cho bà Đ trước khi làm giấy nợ ngày 20-8-2023 mỗi tháng 60.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh. Sau ngày ông Đ và bà N ký lại giấy nợ vào ngày 20-8-2023 thì ông Đ thừa nhận ông Đ, bà N không trả được khoản nợ lãi nào cho bà Đ, nay ông Đ cũng đồng ý trả lãi cho bà Đ theo quy định của pháp luật do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật của nguyên đơn. Như vậy, các đương sự đều thừa nhận đây là hợp đồng vay có lãi nhưng có mâu thuẫn và tranh chấp về lãi suất do đó cần áp dụng khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự mức lãi suất được áp dụng là 10%/năm tức là 0,83%/tháng. Do đó, cần buộc ông Đ, bà N trả cho bà Đ số tiền lãi là: 1.000.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 10 tháng 26 ngày = 90.193.000 đồng.
[4] Từ những phân tích nêu trên chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T.
[5] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu tiền án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 463, 466, 468 của BLDS của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đ đối với ông Trần Hữu Đ, bà Nguyễn Kim N về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc ông Trần Hữu Đ, bà Nguyễn Kim N có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Đ số tiền gốc và lãi là 1.090.193.000 đồng (Một tỷ không trăm chín mươi triệu một trăm chín mươi ba nghìn đồng), trong đó số tiền gốc là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), và tiền lãi là 90.193.000 đồng (Chín mươi triệu một trăm chín mươi ba nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí sơ thẩm dân sự: ông Trần Hữu Đ, bà Nguyễn Kim N phải chịu 44.706.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu bảy trăm lẻ sáu nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ./
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 70/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 70/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thị xã Hoà Thành - Tây Ninh |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 16/07/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về