Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 68/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 68/2024/DS-ST NGÀY 09/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Trong các ngày 06 và ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 315/2023/TLST-DS ngày 22-12-2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 296/2024/QĐXXST-DS ngày 18-7-2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1964; địa chỉ: Xóm K, thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M; địa chỉ: Xóm K, thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Tại Đơn khởi kiện ngày 30-10-2023, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 30-11-2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

Bà và bà Nguyễn Thị M là người cùng thôn. Vào ngày 12-3-2010 (âm lịch) tức ngày 25-4-2010 (dương lịch) bà M có vay của bà số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng); lãi suất 02 bên thỏa thuận miệng (không lập thành văn bản) là 40.000 đồng/1.000.000 đồng/tháng. Sau đó vào ngày 20-3-2010 (âm lịch) tức ngày 03-5-2010 (dương lịch) bà M có vay thêm của bà số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng); lãi suất 02 bên thỏa thuận miệng (không lập thành văn bản) là 40.000 đồng/1.000.000 đồng/tháng.

Sau khi vay, bà M không trả tiền lãi theo đúng thỏa thuận, cũng không trả tiền gốc cho bà. Sau đó 02 bên thỏa thuận bà M trả góp tiền lãi cho bà 50.000 đồng/ngày cho khoản vay 13.000.000 đồng từ ngày vay cho đến khi đủ tiền lãi, nhưng bà M chỉ trả được cho bà số tiền 2.350.000 đồng, cụ thể: Ngày 10-01-2011 trả 550.000 đồng; ngày 26-01-2011 trả 300.000 đồng; ngày 06-02-2011 trả 500.000 đồng; ngày 16-02-2011 trả 500.000 đồng; ngày 17-02-2011 trả 50.000 đồng; ngày 20-02-2011 trả 150.000 đồng; ngày 22-02-2011 trả 100.000 đồng; ngày 26-02-2011 trả 200.000 đồng rồi không trả nữa.

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà M có nghĩa vụ trả cho bà số tiền gốc là 18.000.000 đồng; Buộc bà M trả tiền lãi của cả 02 khoản vay, tính cụ thể như sau: Đối với khoản vay 13.000.000 đồng: Từ ngày 3-5-2010 đến ngày 06-9-2024, bà M đã trả lãi được 12 tháng nên bà M phải trả cho bà số tiền lãi (với mức lãi suất 1,6%/tháng) là 33.041.000 đồng.

Đối với khoản vay 5.000.000 đồng: Từ ngày 25-4-2010 đến ngày 06/9/2024, bà M chưa trả lãi nên bà M phải trả cho bà số tiền lãi (với mức lãi suất 1.6%/tháng) là 14.046.000 đồng.

2. Bị đơn bà Nguyễn Thị M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa; không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị M vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Bà Nguyễn Thị M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác của Tòa án nhưng từ chối nhận; trong thời hạn luật định không có văn bản trình bày ý kiến phản đối những tình tiết, yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H, không đến Tòa án để làm việc, hòa giải, xét xử. Căn cứ vào khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H:

[2.2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện về tiền gốc: Căn cứ vào các Giấy vay mượn do bà H cung cấp thể hiện bà H có cho bà M vay 02 lần với số tiền 18.000.000 đồng vào ngày 12-3-2010 (âm lịch) tức ngày 25-4-2010 (dương lịch) và ngày 20-3-2010 (âm lịch) tức ngày 03-5-2010 (dương lịch); theo các Giấy vay mượn thì bà H và bà M không có thỏa thuận về thời hạn trả nợ. Bà H đã gửi Thông báo đòi nợ cho bà M vào ngày 23-6-2023, yêu cầu bà M trả nợ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Thông báo; theo Phiếu báo phát bưu chính của Bưu điện V thì bà M nhận được Thông báo đòi nợ ngày 24-6-2023 nhưng bà M không trả nợ cho bà H; bà M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bà M không phản đối yêu cầu khởi kiện của bà H, nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, buộc bà M trả cho bà H số tiền nợ gốc là 18.000.000 đồng.

[2.2.2] Đối với yêu cầu khởi kiện về tiền lãi: Theo các Giấy vay mượn do bà H cung cấp thì bà H và bà M không thỏa thuận lãi suất, tuy nhiên bà H trình bày hai bên có thỏa thuận lãi nhưng không lập thành văn bản với mức lãi suất 40.000 đồng/1.000.000 đồng/tháng; theo sổ ghi bà H cung cấp cho Tòa án thì quá trình vay, bà M đã trả cho bà H các lần cụ thể: Ngày 10-01-2011 trả 550.000 đồng; ngày 26-01-2011 trả 300.000 đồng; ngày 06-02-2011 trả 500.000 đồng; ngày 16-02-2011 trả 500.000 đồng; ngày 17-02-2011 trả 50.000 đồng; ngày 20-02-2011 trả 150.000 đồng; ngày 22-02-2011 trả 100.000 đồng; ngày 26-02-2011 trả 200.000 đồng; trong sổ không thể hiện là trả tiền gốc hay tiền lãi; nếu trả lãi thì trả lãi đối với khoản vay nào; bà M không đến Tòa án để trình bày; bà H không có tài liệu, chứng cứ chứng minh giữa bà và bà M có thỏa thuận lãi suất 40.000 đồng/1.000.000 đồng/tháng, do đó hợp đồng vay giữa bà H và bà M là hợp đồng vay không thời hạn và có lãi suất nhưng thuộc trường hợp không xác định rõ lãi suất. Theo Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì thời gian vay tiền giữa bà H và bà M từ 2010, vì vậy, việc tính lãi phải theo quy định của Bộ luật Dân sự có hiệu lực thi hành ở từng giai đoạn. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 474, 476, 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tính tiền lãi cụ thể như sau:

- Từ ngày 25-4-2010 đến ngày 02-5-2010: Áp dụng mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng N1 công bố là 8%/năm (theo các Quyết định 618/QĐ-NHNN ngày 25-3-2010, 1011/QĐ-NHNN ngày 27-4-2010 của Ngân hàng N1):

5.000.000 đồng x 8%/năm x 08 ngày = 8.767 đồng - Từ ngày 03-5-2010 đến ngày 04-11-2010: Áp dụng mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng N1 công bố là 8%/năm (theo các Quyết định số 1011/QĐ-NHNN ngày 27-4-2010, 1311/QĐ-NHNN ngày 31-5-2010, 2024/QĐ-NHNN ngày 25-8-2010, 2281/QĐ-NHNN ngày 27-9-2010, 2561/QĐ-NHNN ngày 27-10-2010 của Ngân hàng N1):

18.000.000 đồng x 8%/năm x 06 tháng 01 ngày = 723.945 đồng - Từ ngày 05-11-2010 đến ngày 31-12-2016: Áp dụng mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng N1 công bố là 9%/năm (theo các Quyết định số 2619/QĐ-NHNN ngày 05-11-2010, 2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010 của Ngân hàng N1):

18.000.000 đồng x 9%/năm x 06 năm 01 tháng 26 ngày = 9.970.397 đồng - Từ ngày 01-01-2017 đến ngày 09-9-2024 (ngày tuyên án sơ thẩm): Áp dụng mức lãi suất 10%/năm theo Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015:

18.000.000 đồng x 10%/năm x 07 năm 08 tháng 09 ngày = 13.844.384 đồng Tổng tiền lãi từ khi vay của cả 02 khoản vay là 24.547.493 đồng, bà H trình bày bà M đã trả 2.350.000 đồng nên còn phải trả 22.197.493 đồng (24.547.493 đồng - 2.350.000 đồng).

[2.2.3] Tổng cộng, bà M có nghĩa vụ trả cho bà H 40.197.493 đồng.

[2.3] Không chấp nhận yêu cầu của bà H về việc buộc bà M trả lãi với số tiền là 24.889.507 đồng.

[2.4] Về án phí: Do Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H nên bà M phải chịu 2.009.875 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền mà bà M có nghĩa vụ trả cho bà H (cách tính: 40.197.493 đồng x 5%); bà H phải chịu 1.244.475 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền không được Hội đồng xét xử chấp nhận (cách tính: 24.889.507 đồng x 5%), bà H đã nộp tạm ứng án phí nên hoàn trả tiền tạm ứng án phí còn lại cho bà H (theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 91, 144, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; 474, 476, 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 357, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

2. Buộc bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị H số tiền 40.197.493 đồng (bốn mươi triệu, một trăm chín mươi bảy nghìn, bốn trăm chín mươi ba đồng).

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị M trả số tiền lãi 24.889.507 đồng (hai mươi bốn triệu, tám trăm tám mươi chín nghìn, năm trăm lẻ bảy đồng).

4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

5. Bà Nguyễn Thị M phải chịu 2.009.875 đồng (hai triệu, không trăm lẻ chín nghìn, tám trăm bảy mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Trần Thị H phải chịu 1.244.475 đồng (một triệu, hai trăm bốn mươi bốn nghìn, bốn trăm bảy mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000916 ngày 18-12-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Hoàn trả cho bà Trần Thị H số tiền 311.525 đồng (ba trăm mười một nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng).

6. Nguyên đơn có mặt tại phiên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng, Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

56
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 68/2024/DS-ST

Số hiệu:68/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Quảng Ngãi - Quảng Ngãi
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về