TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN-TỈNH VĨNH LONG
BẢN ÁN 65/2024/DS-ST NGÀY 06/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2024/TLST- DS ngày 08 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1969 (có mặt) Địa chỉ: Tổ 7, ấp N, xã L, huyện B, tỉnh Vĩnh Long 2.Bị đơn: Anh Phạm Thái D, sinh năm 1991 (vắng mặt) Bà Ngô Thị Thúy L, sinh năm 1966 (vắng mặt) Địa chỉ: khóm T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 04/4/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày:
Nguyên vào ngày 16/9/2022 bà có cho người em tên Phạm Thái D mượn 12 chỉ vàng 24K và 50.000.000 đồng để kinh doanh vàng, thực tế D huy động vốn để làm ăn.
Hai bên thỏa thuận lãi là một tháng 1%, D đóng được 03 tháng thì không đóng nữa. Bà có gặp D hai, ba lần để thu hồi 12 chỉ vàng 24K và 50.000.000 đồng nhưng D chỉ hứa, chưa trả cho bà. Phạm Thái D còn cho rằng tiền và vàng này D nhận cho mẹ là Ngô Thị Thúy L Qua sự việc nêu trên bà khởi kiện yêu cầu buộc anh Phạm Thái D và bà Ngô Thị Thúy L trả 12 chỉ vàng 24K và số tiền 50.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 01/01/2023 cho đến nay theo lãi suất của nhà nước quy định.
Tại phiên tòa bà Phạm Thị T thống nhất rút lại yêu cầu bà L liên đới trả số tiền và vàng, chỉ yêu cầu anh Phạm Thái D trả cho bà số vàng là 12 chỉ vàng 24K và số tiền 50.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 01/01/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là 20 tháng theo lãi suất quy định là 0,83%/tháng, và yêu cầu tính lãi tiếp tục đến khi nào anh Phạm Thái D trả xong số tiền 50.000.000đ.
Anh Phạm Thái D, bà Ngô Thị Thúy L vắng mặt dù đã triệu tập hợp lệ
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp và pháp luật áp dụng giải quyết vụ án là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
[2]Về thủ tục tố tụng:
Từ khi giải quyết đến khi xét xử Tòa án đã tiến hành đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Xét trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ lúc thụ lý đến khi xét xử anh Phạm Thái D và bà Ngô Thị Thúy L vắng mặt không đến dự tất cả các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử. Do đó căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ – HĐTP ngày 5/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Hội đồng xét xử xem xét quyết định xét xử vắng mặt anh Phạm Thái D và bà Ngô Thị Thúy L.
Tại phiên tòa, nguyên đơn rút yêu cầu bà Ngô Thị Thúy L liên đới trả 12 chỉ vàng 24K và 50.000.000đ. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về nội dung giải quyết vụ án:
[3.1] Xét biên nhận ngày 16/9/2022 âm lịch được anh Phạm Thái D viết và ký tên, nội dung biên nhận thể hiện anh Phạm Thái D có vay của bà Phạm Thị T số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) và 12 chỉ vàng 24K.
[3.2] Tòa án nhân huyện Bình Tân đã thông báo hợp lệ về việc công khai chứng cứ là biên nhận ngày 16/9/2022 ÂL được anh Phạm Thái D viết và ký tên do nguyên đơn xuất trình, đến tại phiên tòa hôm nay Tòa án nhân dân huyện Bình Tân cũng chưa nhận được chứng cứ nào thể hiện bị đơn phản đối chứng cứ do nguyên đơn đưa ra nên được xem là tình tiết, văn bản mà nguyên đơn không phải chứng minh, được quy định tại Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Do đó, căn cứ vào các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có sở nên được chấp nhận.
Cần buộc anh Phạm Thái D phải có trách nhiệm trả cho bà Phạm Thị T số tiền vay là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) và 12 chỉ vàng 24K.
[3.3] Về phần lãi suất mà nguyên đơn yêu cầu, Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn phải chịu lãi suất là 0.83% tương ứng trên số tiền gốc đã nợ cụ thể như sau:
Lãi suất tính trên số tiền gốc là 50.000.000 đồng bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ tính từ tháng 01/01/2023 đến tháng 01/09/2024 là 20 tháng x 0,83% x 50.000.000đ = 8.300.000 đồng Vậy số tiền gốc và lãi mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 50.000.000 đồng + 8.300.000 đồng = 58.300.000 đồng.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T được chấp nhận, nên anh Phạm Thái D phải chịu án phí có giá ngạch số tiền là 7.437.500 đồng. Bà Phạm Thị T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92, khoản 1 Điều 244; các điều 227, 228, 266, 271, 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 357, 463, 465, 466, khoản 2 Điều 468 và Điều 469 của Bộ luật dân sự năm 2015 ;Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Buộc bị đơn anh Phạm Thái D trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị T số vàng là 12 chỉ vàng 24K và 58.300.000 đồng (gốc là 50.000.000đ và lãi là 8.300.000đ) 2.Về án phí dân sự sơ thẩm:
Hoàn trả cho bà Phạm Thị T số tiền 3.350.000 đồng theo biên lai thu số 0013441 ngày 08/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Tân.
Buộc anh Phạm Thái D phải chịu 7.437.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3.Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu buộc bà Ngô Thị Thúy L liên đới trả số vàng 12 chỉ vàng 24 và 50.000.000đ của bà Phạm Thị T 4.Án xử công khai đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 65/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 65/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Bình Tân - Vĩnh Long |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 06/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về