TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
BẢN ÁN 53/2023/DS-ST NGÀY 08/09/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 24/2023/TLST- DS ngày 16 tháng 3 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 76/2023/QĐST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1961 (có mặt) Nơi cư trú: Mỏ Trạng, xã T, huyện Y, Bắc Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1966 (vắng mặt) Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Y, Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai trong hồ sơ vụ án của nguyên đơn là bà K trình bày: Bà và ông L có biết nhau qua làm ăn với nhau. Do ông L cần tiền có hỏi vay được bà đồng ý cho ông L vay số tiền 30.000.000 đồng. Khi vay có lập giấy nhận nợ do ông L tự tay viết vào ngày 21/11/2008, có hẹn đến ngày 21/12/2008 trả, không ghi lãi suất trong giấy nhận nợ nhưng có thỏa thuận miệng với nhau là tính theo lãi suất ngân hàng N quy định. Bà là người đưa tiền cho ông L nhận và ký ghi rồ họ tên phần bên dưới người vay tiền. Sau khi vay ông L không trả lần nào mặc dù, đã đòi rất nhiều lần. Số tiền cho vay là tài sản riêng của bà không liên quan đến chồng bà là ông Lương Viết T nên đề nghị không đưa ông T vào tham gia trong vụ án này. Tại thời điểm bà cho ông L vay tiền thì có nghe nói ông L đã ly hôn với vợ ( bà không biết ông L có vợ tên là gì ở đâu, chưa gặp bao giờ) nên bà xác định chỉ cho cá nhân ông L vay và cá nhân ông L ký nhận nợ với bà nên bà chỉ yêu cầu cá nhân ông L phải có trách nhiệm trả số tiền còn nợ. Cụ thể tại đơn khởi kiện bà yêu cầu ông L phải trả số tiền 30.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi suất theo lãi suất ngân hàng quy định là 0,8%/tháng với thời gian là 13 năm 04 tháng thành tiền là 29.700.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi suất là 59.700.000 đồng. Đến nay bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với số tiền này, về khoản tiền lãi phát sinh bà tự nguyện miễn cho ông L. Ngoài ra bà không có yêu cầu gì khác.
Đối với bị đơn ông L theo thông tin xác minh thì ông L làm nghề lái xe, Tòa án đã liên lạc qua số điện thoại 0974992X để thông báo nội dung các văn bản tố tụng cho ông L được biết, đồng thời đã gặp trực tiếp để giao các văn bản giấy tờ yêu cầu ông L đến Tòa án để làm việc về các vấn đề có liên quan vụ án, ông L đã nghe điện thoại đồng ý đến Tòa án, có nhận được các văn bản nhưng đến hẹn lại không có mặt. Như vậy Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng không đến làm việc, vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà K1. Tại phiên tòa hôm nay ông L vắng mặt.
- Đại diện VKSND huyện Yên Thế phát biểu ý kiến:
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định.
Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K. Buộc ông Nguyễn Ngọc T phải trả cho bà Nguyễn Thị K số tiền 59.700.000 đồng (trong đó số tiền 30.000.000 đồng nợ gốc và số tiền lãi suất là 29.700.000 đồng. Ông L còn phải chịu lãi suất chậm trả cho đến khi trả nợ xong. Ông L phải chịu 2.985.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến đề nghị của các đương sự. Căn cứ vào kết quả thảo luận nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà K khởi kiện ông L có nơi cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện Y, Bắc Giang để yêu cầu trả số tiền đã cho vay. Tòa án nhân dân huyện Yên Thế đã thụ lý giải vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo thủ tục tố tụng dân sự là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải nhung không thành nên đua vụ án ra xét xử là đúng quy định.
Tại đơn khởi kiện, người khởi kiện đối với hợp đồng cho vay nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn ông Nguyễn Ngọc L. Đối với ông L thì Tòa án đã liên lạc qua số điện thoại 0974992X để thông báo cho ông L đồng thời đã gặp trực tiếp để giao các văn bản giấy tờ yêu cầu ông L đến Tòa án để làm việc về các vấn đề có liên quan vụ án nhung ông Nguyễn Ngọc L không đến làm việc, vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà K1.
Tòa án đã ra các quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ nhưng ngoài những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì phía nguyên đơn, bị đơn, đương sự khác không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác nên phải chịu hậu quả pháp lý.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử theo quy định.
[2] Về yêu cầu đòi tiền của nguyên đơn:
- Về tiền gốc: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ phù hợp với nội dung giấy vay tiền được lập giữa các bên. HĐXX nhận định, ông Nguyễn Ngọc L có vay của bà Nguyễn Thị K số tiền 30.000.000 đồng, khi vay có lập giấy vay tiền do ông L viết ghi ngày 21/11/2008, mục đích vay là để kinh doanh phát triển kinh tế, các bên không thỏa thuận lãi suất trong giấy vay, có ghi kỳ hạn trả là 30 ngày. Sau khi vay cho đến khi đến kỳ hạn trả nợ nhưng ông L chưa trả tiền cho bà K mặc dù bà K đã đòi tiền nhiều lần nhưng đến nay ông L vẫn chưa trả là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nay bà K khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông L phải trả số tiền gốc 30.000 đồng và lãi suất là có căn cứ.
- Về tiền lãi suất: Xét thấy trong vụ án không ai đề nghị áp dụng thời hiệu, nguyên đơn khẳng định có thỏa thuận về lãi suất. Tại giấy vay tiền ngày 21/11/2008, không nêu cụ thể lãi suất bao nhiêu, tuy nhiên bà K xác định có thỏa thuận lãi suất . Tính lãi suất theo quy định pháp luật kể từ ngày 21/11/2008 đến ngày 31/12/2016 thời gian là 08 năm 01 tháng 10 ngày với mức lãi suất quy định 9%/năm là 21.900.000 đồng. Từ ngày 01/01/2017 đến hôm nay ngày 08/9/2023 là 06 năm 08 tháng 07 ngày lãi suất là 10%/năm là 19.976.700 đồng. Như vậy tổng cộng lãi tính đến ngày 08/9/2023 là 41.876.700 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà K chỉ yêu cầu ông L phải trả số tiền nợ gốc và lãi suất bà đã ghi trong đơn khởi kiện. Đối với khoản lãi kể từ khi khởi kiện cho đến ngày xét xử bà K tự nguyện miễn cho bị đơn nên cần chấp nhận. Như vậy, đến nay ông L chưa thông toán trả nợ là vi phạm nghĩa vụ trả tiền nay bà K yêu cầu trả lãi phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận. Tính đến ngày khởi kiện là 18/4/2022 bà K tính tròn số tiền lãi mà ông L phải trả cho bà K theo số tiền bà đã ghi trong đơn khởi kiện ban đầu là 29.700.000 đồng, số tiền lãi thừa bà tự nguyện cho ông L. Như vậy, tổng số tiền cả gốc và lãi mà ông L phải trả cho bà K là 59.700.000 đồng là có căn cứ.
- Về nghĩa vụ trả nợ: Theo sự thừa nhận của bà K thì số tiền 30.000.000 đồng là tiền tài sản của riêng bà cho cá nhân ông L vay tiền nên chỉ yêu cầu một mình ông L trả số tiền nợ gốc 30.000.000 đồng và lãi suất. HĐXX xác định trách nhiệm trả nợ là cá nhân ông L nên cần buộc ông L phải trả cho bà K số tiền 30.000.000 đồng và lãi suất, không có ai có trách nhiệm liên đới với ông L.
[3] Về lãi suất phát sinh do chậm trả tiền: Do hai bên đương sự không thỏa thuận được mức lãi suất chậm trả tiền nên HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự để ấn định mức lãi suất chậm trả tiền.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của bà K được chấp nhận nên ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 466; khoản 2 Điều 468; Điều 470 của Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K đối với ông Nguyễn Ngọc L: Buộc ông Nguyễn Ngọc L phải trả cho bà Nguyễn Thị K số tiền 59.700.000 đồng (trong đó số tiền 30.000.000 đồng nợ gốc và số tiền lãi suất là 29.700.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc L phải chịu 2.985.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 53/2023/DS-ST
| Số hiệu: | 53/2023/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Yên Thế - Bắc Giang |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 08/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về