TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
BẢN ÁN 49/2024/DS-ST NGÀY 27/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 199/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 về tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXX – ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1987; trú tại: tổ X, khu phố T, phường TB, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (có)
- Bị đơn: ông Nguyễn Bá H, sinh năm 1998; trú tại: ấp X, xã TH, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (vắng)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan : bà Lưu Thị H1, sinh năm 1983 ; trú tại: tổ X, khu phố T, phường TB, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (có đơn xin vắng)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:
Vì là chổ quen biết với nhau thông qua sự giới thiệu của bạn bè, vào ngày 08 tháng 01 năm 2024, ông Nguyễn Bá H đã vay của tôi số tiền 3.500.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng, thời hạn vay 02 ngày, lãi suất theo thỏa thuận là 2.000đồng/triệu/ngày thông qua hình thức chuyển khoản vào số tài khoản của công ty TNHH VLXD Thịnh Phát BP do ông H đưa (là công ty em trai của ông H). Sau khi thỏa tuận tôi đã chuyển đủ và ông H cũng đã nhận đủ số tiền 3.500.000.000đồng; việc vay tiền có lập biên bản là hợp đồng cho vay tiền đáo hạn, có ông Nguyễn Bá H là bên vay ký, ghi rõ họ tên và đã nhận đủ số tiền 3.500.000.000đồng.
Để làm tin cho việc vay tiền, ông H có đưa cho tôi 03 bản gốc GCNQSD đất có số phát hành là CU 794XXX, CC 768XXX và BM 606XXX đứng tên Nguyễn Bá H giữ.
Tuy nhiên sau khi vay ông Hchỉ mới trả cho tôi được 17.500.000đồng tiền lãi (trong chuyển khoản là 19.500.000đồng nhưng có 2.000.000đồng ông H cho môi giới). Đến ngày 28/02/2024,ông H trả được cho tôi số tiền gốc là 2.000.000.000đồng nên còn nợ lại 1.500.000.000đồng và tôi cũng đã trả cho ông H01 bản gốc GCNQSD đất có số phát hành là BM 606xxx. Số tiền gốc còn lại là 1.500.000.000đồng mặc dù tôi đã đòi nhiều lần nhưng ông Hvẫn không trả, do vậy tôi yêu cầu ông Hphải trả cho tôi số tiền gốc còn nợ là 1.500.000.000đồng và tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự.
Bị đơn ông H trình bày:
Thông qua sự giới thiệu của bạn, tôi là người đứng ra hỏi và vay của ông B số tiền là 3.500.000.000đồng; khi vay tôi và ông Bthỏa thuận mức lãi suất là 2.500đồng/triệu/ngày.
Sau khi thống nhất mức lãi, ông B đã chuyển khoản vào số tài khoản do tôi đưa cho B là của Công ty TNHH VLXD Thịnh Phát BP của em trai tôi là Nguyễn Bá H2 làm giám đốc; ông B đã chuyển đủ số tiền ba tỷ năm trăm triệu đồng vào tài khoản trên. Để đảm bảo cho khoản vay ba tỷ năm trăm triệu đồng, tôi có thế chấp cho ông B 03 GCNQSD đất (bản gốc ) có số phát hành là CU 794XXX, CC 768XXXvà BM 606XXX đứng tên tôi, Nguyễn Bá H để làm tin.
Việc vay tiền và thế chấp 03 GCNQSD đất như trên có lập văn bản là hợp đồng vay tiền đáo hạn, ngày 08/01/2024 tôi và ông Nguyễn Văn B có ký vào hợp đồng.
Đến ngày 12/01/2024 tôi đã chuyển khoản trả cho ông B được 17.500.000đồng tiền lãi.
Đến ngày 28/02/2024 tôi đã trả cho ông B được 02 tỷ đồng tiền gốc và ông B đã trả lại cho tôi 01 bản gốc GCNQSD đất có số phát hành là BM 606xxx.
Như vậy, tôi chỉ còn nợ lại ông B số tiền gốc là một tỷ năm trăm triệu đồng và ông B còn giữ của tôi 02 GCNQSD đất (bản gốc ) có số phát hành là CU 794XXX, CC 768670.
Nay ông B khởi kiện yêu cầu tôi phải trả số tiền gốc còn lại là một tỷ năm trăm triệu đồng thì tôi có ý kiến như sau:
- Lý do tôi chưa trả được tiền cho B là do sau khi đáo hạn thì Ngân hàng không tái cấp vốn lại cho tôi, do vậy, tôi xin được trả số tiền gốc còn lại là 1.500.000.000đồng cho ông Btừ từ và chia làm nhiều lần.
- Về tiền lãi thì tôi không đồng ý với yêu cầu của ông B, do việc làm ăn của tôi khó khăn, Ngân hàng thì không tái cấp vốn cho tôi do vậy tôi xin không tính tiền lãi và trừ vào số tiền lãi tôi đã trả cho ông Blà 17.500.000đồng.
- Yêu cầu ông B trả lại cho tôi bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành là CU 794XXX, số vào sổ cấp GCN: CS 036XX, do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày 12 tháng 5 năm 2020 đã điều chỉnh trang 3 sang tên cho ông Nguyễn Bá H và bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành là CC 768XXX do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày 25 tháng 7 năm 2016 đã điều chỉnh trang 4 sang tên cho ông Nguyễn Bá H.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lưu Thị H1 trình bày: thống nhất như lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã tuân thủ các quy định của thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung vụ án: Áp dụng quy định tại các Điều 280, 357 và Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bị đơn ông H có trách nhiệm trả cho ông B số tiền gốc đã vay còn nợ lại là 1.500.000.000đồng và tiền lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự cụ thể là 251.420.000đồng tính đến hết ngày 27 tháng 9 năm 2024, tổng cộng là 1.751.420.000đồng.
Sau khi ông H thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả tiền, ông B có trách nhiệm hoàn trả cho ông Hbản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành là CU 794XXX, số vào sổ cấp GCN: CS 036XX, do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày 12 tháng 5 năm 2020 đã điều chỉnh trang 3 sang tên cho ông Nguyễn Bá H và bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành là CC 768XXXdo Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày 25 tháng 7 năm 2016 đã điều chỉnh trang 4 sang tên cho ông Nguyễn Bá H.
Về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án đề nghị Tòa án áp dụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét ý kiến của các đương sự và của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Bá H phải trả số tiền gốc còn nợ lại là 1.500.000.000đồng và tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự, do vậy, đây là tranh chấp dân sự về “hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Nguyễn Bá H có nơi thường trú tại ấp 3, xã Tiến Hưng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triêu tập, quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, song bị đơn ông Hvẫn vắng không rõ lý do; người có quyền nghĩa vụ bà Hòa xin vắng, do vậy, căn cứ theo quy định tại điều 70, 73 và điều 199 và điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của nguyên đơn ông B, bị đơn ông Hđã thống nhất được các nội dung sau:
- Do có mối quan hệ quen biết với nhau nên ngày 08 tháng 01 năm 2024, nguyên đơn ông B đã cho bị đơn ông H vay tổng số tiền là 3.500.000.000đồng thông qua hình thức chuyển khoản vào số tài khoản của công ty TNHH VLXD Thịnh Phát BP (là số tài khoản của công ty em trai của bị đơn ông H). Việc vay tiền có lập văn bản là: Hợp đồng vay tiền đáo hạn và đã được bị đơn ông H xác nhận đã nhận đủ số tiền ba tỷ năm trăm triệu đồng.
- Để làm tin cho việc vay tiền, bị đơn ông Hđã đưa cho ông B giữ ba bản gốc GCNQSD đất có số phát hành là CU 794XXX, CC 768XXXvà BM 606XXX đứng tên Nguyễn Bá H.
- Sau khi vay số tiền ba tỷ năm trăm triệu đồng, ngày 28 tháng 02 năm 2024, ông H đã trả được cho ông B số tiền gốc là hai tỷ đồng; ông B cũng đã trả lại cho ông H một bản gốc GCNQSD đất có số phát hành là BM 6067xx, đứng tên Nguyễn Bá H; việc trả tiền có ghi vào mặt sau – trang 4 – hợp đồng vay tiền đáo hạn và do bà Lưu Thị H1 – vợ của ông B– nhận tiền, trả GCNQSD đất.
- Mục đích vay số tiền ba tỷ năm trăm triệu đồng là để đáo hạn ngân hàng, ông Bvà ông Hcùng thỏa thuận và thống nhất: thời hạn trả là 02 ngày, lãi suất thỏa thuận là 2.000đồng/triệu/ngày, có thể hiện rõ ở Hợp đồng vay tiền đáo hạn.
- Ông H đã trả cho ông Bđược 17.500.000đồng tiền lãi ( ông H chuyển khoản cho ông B số tiền là 19.500.000đồng tuy nhiên trong đó có 2.000.000đồng là tiền cho môi giới và được ông H xác nhận) - Cho đến hiện nay ông H còn nợ ông B số tiền gốc là 1.500.000.000đồng và tiền lãi, ông B còn giữ của ông Hhai GCNQSD đất (bản gốc ) có số phát hành là CU 794XXX, CC 768XXXđứng tên Nguyễn Bá H. Do gặp khó khăn trong kinh tế nên bị đơn ông H chưa trả được số tiền gốc còn nợ là 1.500.000.000đồng và tiền lãi cho ông Bnên ông B khởi kiện; trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được hòa giải, ông H đã đồng ý trả cho ông B số tiền gốc và tiền lãi đến tháng 8/2024 (song theo thỏa thuận riêng giữa ông B và ông H là đến hết tháng 9/2024) là 1.700.000.000đồng, tuy nhiên ông H lại thay đổi ý kiến vì muốn được giảm thêm tiền lãi và không đồng ý đóng tiền án phí.
Theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì nhưng tình tiết trên không phải chứng minh do đã rõ ràng, được ghi trong văn bản và được nguyên đơn ông B cùng người liên quan bà H1 và cả bị đơn ông H thừa nhận.
Xét yêu cầu của nguyên đơn ông B thấy rằng: tại hợp đồng vay tiền đáo hạn cũng như sự xác nhận của ông B– bên cho vay - và ông H- bên vay- đều thống nhất: số tiền gốc ban đầu ông H vay của ông Blà ba tỷ năm trăm triệu đồng, có thỏa thuận lãi suất là 2.000đồng/triệu/ngày, thời hạn vay: 02 ngày; do vậy, đây là hợp vay tài sản có kỳ hạn và có lãi suất. Tuy nhiên, do mức lãi suất hai bên thỏa thuận là 2.000đồng/triệu/ngày là vượt mức lãi suất được quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự, cụ thể: “trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay”, như vậy, mức lãi suất được tính theo tháng là 20%/năm 365 ngày = 0,054%/ngày. Trong quá trình giải quyết, ông Bđã giảm tiền lãi cho ông H(dưới mức 0,054%/ngày) song ông Hvẫn không đồng ý, do vậy, tại phiên tòa ông Byêu cầu ông Hphải trả tiền lãi theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự là phù hợp, có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.
Cụ thể ông H phải trả cho ông B khoản tiền lãi như sau:
- Khoản tiền lãi trong hạn theo hợp đồng là 02 ngày, cụ thể: 3.500.000.000đồng x 0,054%/ngày = 1.890.000đồng/ngày x 02 ngày = 3.780.000đồng.
- Sau đó do ông H vi phạm nghĩa vụ trả nợ (là ngày 10/01/2024), theo quy định tại Điều 357 thì: “Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của BLDS”, như vậy mặc dù ông Hvi phạm nghĩa vụ trả nợ song vẫn chỉ trả tiền lãi theo mức lãi suất là 0,054%/ngày (không x với 150% nữa) trên số tiền chậm trả, cụ thể: 3.500.000.000đồng x 1.890.000đồng/ngày x 49 ngày (từ ngày 10 tháng 01 năm 2024 đến ngày 27 tháng 02 năm 2024) = 92.610.000đồng.
- Ngày 28/02/2024, ông H đã trả cho ông B số tiền gốc là 2.000.000.000đồng, do vậy số tiền gốc còn lại là 1.500.000.000đồng x 0,054%/ngày = 810.000đồng/ngày x 213 ngày ( từ ngày 28/02/2024 đến ngày xét xử là ngày 27/9/2024) = 172.530.000 đồng.
Tổng số tiền lãi ông H phải trả cho ông B tính đến ngày 27/9/2024 là: 3.780.000đồng + 92.610.000đồng + 172.530.000 đồng – 17.500.000đồng (tiền lãi ông H đã trả cho ông B) = 251.420.000đồng. Như vậy, tổng số tiền gốc và lãi ông H phải trả cho ông B tính đến ngày 27/9/2024 là 1.500.000.000đồng + 251.420.000đồng = 1.751.420.000đồng.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài là phù hợp với các quy định của Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự: Mặc dù bị đơn ông H không đồng ý đóng tiền án phí, song theo quy định tại 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án quy định: “ Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp tòan bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận” ; do vậy, ông Hcó nghĩa vụ phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật Cũng theo quy định tại Điều 24 và điểm d mục 1.3 Danh mục án phí của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 thì ông Hphải chịu số tiền án phí cụ thể là 65.059.000đồng.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bởi các lẽ nêu trên:
Áp dụng:
QUYẾT ĐỊNH
Các Điều Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, 40; Điều 70, 73; Điều 92; Điều 143, 147; Điều 227; Điều 266; Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Các Điều 280, 357 và các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B Buộc ông Nguyễn Bá H có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn B số tiền gốc còn nợ là 1.500.000.000đồng và 251.420.000đồng tiền lãi tính đến hết ngày 27 tháng 9 năm 2024, tổng cộng là 1.751.420.000đồng.
1.1. Ngay sau khi ông Nguyễn Bá H thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả tiền, ông Nguyễn Văn B có trách nhiệm hoàn trả cho ông H bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành là CU 794XXX, số vào sổ cấp GCN: CS 036XX, do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày 12 tháng 5 năm 2020 đã điều chỉnh trang 3 sang tên cho ông Nguyễn Bá H và bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành là CC 768XXX do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày 25 tháng 7 năm 2016 đã điều chỉnh trang 4 sang tên cho ông Nguyễn Bá H.
2. Án phí, lệ phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Bá H phải chịu 64.512.000đồng Hoàn trả cho ông B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 37.000.000đồng (ba mươi bảy triệu đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0001429, ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Chi cục thi hành án thành phố Đồng Xoài.
3. Về nghĩa vụ thi hành án:
3.1. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày 28 tháng 9 năm 2024, người phải thi hành án – tức ông H- còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán tương ứng với thời gian chậm thanh toán theo mức lãi suất được quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự cho đến khi thanh toán xong.
3.2. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông H; bà H1 được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 49/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 49/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài - Bình Phước |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 27/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về