Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 43/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 43/2024/DS-ST NGÀY 16/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 28/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị B, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Ông Lê Trọng H, sinh năm 1980 và bà Trần Thị Bích N, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, đều vắng mặt,

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trịnh Thị B trình bày:

Bà Trịnh Thị B và ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N không có mối quan hệ họ hàng, chỉ là người quen biết nhau.

Vào ngày 27/8/2021 giữa vợ chồng ông H, bà N và bà B có lập 01 “Giấy vay tiền” để vay số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất 1.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, mục đích vay để sinh hoạt trong gia đình, thời hạn trả nợ không ghi trong giấy vay tiền nhưng các bên tự thỏa thuận với nhau thời hạn là 01 tháng tính từ ngày 27/8/2021.

Quá trình vay thì ông H, bà N đã trả cho bà B số tiền 200.000.000 đồng tiền gốc, cụ thể: Ngày 06/12/2022 trả 50.000.000 đồng; ngày 13/12/2022 trả 100.000.000 đồng và khoảng tháng 6/2023 trả 50.000.000 đồng. Ngoài ra ông H, bà N không trả thêm cho bà B khoản tiền nào.

Từ ngày 15/9/2023 đến trước khi khởi kiện, bà B đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng ông H, bà N vẫn chưa trả số tiền còn lại. Vì vậy, bà B khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N phải trả số tiền gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi suất 10%/năm kề từ ngày 15/9/2023 cho đến khi trả nợ xong.

Đối với bị đơn sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và nhiều văn bản tố tụng khác đề thông báo cho bị đơn tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi cho mình nhưng bị đơn đều vắng mặt tại các buổi làm việc ở Tòa án cũng như tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án không lấy được lời khai của bị đơn.

Ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên toà: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn số tiền là 200.000.000 đồng và lãi suất 10%/năm kể từ ngày 15/9/2023 cho đến khi kết thúc vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng và thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền vay là 200.000.000 đồng và lãi suất 10%/năm kể từ ngày 15/9/2023 cho đến khi trả nợ xong, nên đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn có nơi cư trú tại thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để thụ lý, giải quyết xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về số tiền gốc: Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc là 200.000.000 đồng, thấy rằng: Ngày 27/8/2021 vợ chồng ông H, bà N có viết 01 “Giấy vay tiền” cho bà B để vay bà B số tiền 400.000.000 đồng. Nguyên đơn cho rằng các bên có thỏa thuận bằng miệng lãi suất vay là 1.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, mục đích vay để sinh hoạt trong gia đình, thời hạn trả nợ là 01 tháng tính từ ngày 27/8/2021. Quá trình vay thì ông H, bà N đã trả cho bà B số tiền là 200.000.000 đồng tiền gốc, cụ thể: Ngày 06/12/2022 trả 50.000.000 đồng; ngày 13/12/2022 trả 100.000.000 đồng và khoảng tháng 6/2023 trả 50.000.000 đồng; còn nợ lại 200.000.000 đồng. Tuy nhiên từ đó đến nay, ông H, bà N không chịu trả số tiền 200.000.000 đồng còn lại cho bà B, mặc dù bà B đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông H và bà N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, giấy triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng, không thể hiện ý kiến với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó xác định bị đơn vắng mặt được coi như là từ bỏ quyền chứng minh tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Tòa án đã ban hành Quyết định số 13/2024/QĐ-TCGĐ ngày 27/5/2024 về trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông Lê Trọng H và bà Trần Thị Bích N trong giấy “Giấy vay tiền” đề ngày 27/8/2021. Tại Kết luận giám định số 770/KL-KTHS ngày 20/6/2024 và Kết luận giám định số 1003/KL-KTHS ngày 19/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ kết luận: “1. Chữ ký, chữ viết mang tên Lê Trọng H dưới dòng chữ “27/08/2021” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết mang tên Lê Trọng H trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1 là do cùng một người ký và viết ra; 2. “Chữ ký, chữ viết mang tên Trần Thị Bích N dưới dòng chữ “27/08/2021” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết mang tên Trần Thị Bích N trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu từ M1 đến M6, là do cùng một người ký và viết ra.” Xét quan hệ pháp luật dân sự giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 463 Bộ luật dân sự, vì vậy quyền và nghĩa vụ của các bên được pháp luật bảo vệ. Tại giấy vay tiền ngày 27/8/2021 giữa các bên có xác định thời hạn trả nợ nhưng bị đơn không trả đúng theo thoả thuận đã cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Do đó, nguyên đơn bà Trịnh Thị B khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Trọng H và bà Trần Thị Bích N phải trả số nợ còn lại là 200.000.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

[2.2 ] Về tiền lãi: Theo lời khai của nguyên đơn xác định khi nguyên đơn và bị đơn xác lập hợp đồng vay đều có thỏa thuận về lãi suất vay, nguyên đơn cho rằng lãi suất 1.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày còn bị đơn không đến Tòa án làm việc nên không xác định được lãi suất các bên thỏa thuận, xét thấy yêu cầu lãi suất của nguyên đơn là 10%/năm kể từ ngày 15/9/2023 cho đến khi kết thúc vụ án (ngày 16/9/2024) là phù hợp nên HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 468; khoản 2 Điều 2, khoản 2 Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm để xác định số tiền lãi mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn như sau:

- Tiền lãi trên nợ lãi chưa trả từ ngày 15/9/2023 đến ngày 16/9/2024 (ngày xét xử) là 01 năm 01 ngày = 200.000.000 đồng x (10% : 12 tháng) x 01 năm 01 ngày = 20.307.000 đồng (đã làm tròn).

Tổng cộng gốc và lãi là: 200.000.000 đồng + 20.307.000 đồng = 220.307.000 đồng.

[3] Như vậy, bị đơn ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N phải trả cho bà Trịnh Thị B tổng số tiền là 220.307.000 đồng, trong đó tiền gốc là: 200.000.000 đồng và tiền lãi là 20.307.000 đồng.

[4] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

[6] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết và đã nộp số tiền 7.870.000 đồng tiền chi phí giám định. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ vào các Điều 159, 160, 161, 162 Bộ luật Tố tụng dân sự buộc ông H, bà N phải chịu 7.870.000 đồng tiền chi phí giám định chữ ký, chữ viết.

[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 144, 147, 227, 228, 235, 238, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 2, khoản 2 Điều 5, Điều 6, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị B.

1. Buộc ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N có nghĩa vụ trả cho bà Trịnh Thị B số tiền 220.307.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu, ba trăm lẻ bảy nghìn đồng), trong đó: tiền gốc là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và tiền lãi là 20.307.000 đồng (Hai mươi triệu, ba trăm lẻ bảy nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N phải chịu số tiền 7.870.000 đồng (Bảy triệu, tám trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền chi phí giám định chữ ký, chữ viết. Sau khi thu được từ ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N thì trả lại cho bà Trịnh Thị B số tiền 7.870.000 đồng (Bảy triệu, tám trăm bảy mươi nghìn đồng).

3. Về án phí: Ông Lê Trọng H, bà Trần Thị Bích N phải chịu 11.015.000 đồng (Mười một triệu, không trăm mười lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho nguyên đơn bà Trịnh Thị B số tiền 5.227.000 đồng (Năm triệu hai trăm hai mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2023/0006515 ngày 13/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Kuin.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

103
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 43/2024/DS-ST

Số hiệu:43/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cư Kuin - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về