TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGH H, TỈNH CÀ MAU
BẢN ÁN 37/2024/DS-ST NGÀY 05/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 104/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Ngô Thị V, sinh năm: 1980 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm 4, thị trấn Rạch G, huyện Ngh H, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1951 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm 4, thị trấn Rạch G, huyện Ngh H, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn bà Ngô Thị V trình bày: Vào năm 2018 đến năm 2020, bà có cho bà Nguyễn Thị Nh mượn tiền nhiều lần, tổng cộng số tiền vay vốn đến nay là 30.000.000 đồng, tới nay bà Nh chưa trả cho bà số tiền nợ trên. Do không có tiền trả, bà Nh có nhờ bà vô dùm bà Nh 01 chân hụi, sau đó bà có nhờ cháu bà là Trần Kim T, địa chỉ: Khóm 4, thị trấn Rạch Gốc, huyện Ngh H, tỉnh Cà Mau vô dùm bà Nh 01 chân hụi 500.000 đồng, hụi do bà Diệp Mỹ N, địa chỉ: Khóm 6, thị trấn Rạch Gốc, huyện Ngh H, tỉnh Cà Mau làm chủ hụi, dây hụi này có 65 chân, bà Nh có đưa tiền cho bà để gửi cháu bà là bà Tuyền đóng hụi được 22 lần, số tiền đóng bình quân là 300.000 đồng/lần, sau khi đóng được 22 lần bà Nh không đóng hụi nữa, do đó bà đã đóng dùm bà Nh thêm 07 lần hụi nữa với số tiền là 2.070.000 đồng. Hiện nay, cháu bà là Trần Kim T đã khởi kiện bà Diệp Mỹ N để yêu cầu trả nợ hụi. Tại phiên toà, bà V đồng ý đối trừ số tiền hụi mà bà Nh đã đưa cho bà đóng hụi 22 lần là 6.600.000 đồng, do đó bà Nh còn nợ bà số tiền 23.400.000 đồng. Nay bà yêu cầu bà Nh trả cho bà số tiền 23.400.000 đồng, bà V không yêu cầu tính lãi. Đối với số tiền 07 lần bà đưa cho cháu bà là Trần Kim T đóng hụi dùm là 2.070.000 đồng, nay Trần Kim T đã khởi kiện tranh chấp nợ hụi với bà Diệp Mỹ N nên bà xin rút lại yêu cầu này.
Bà Nguyễn Thị Nh trình bày: Bà đồng ý có nợ tiền vay bà Ngô Thị V là 30.000.000 đồng, do không có tiền trả bà có nhờ bà Ngô Thị V vô dùm bà 01 chân hụi 500.000 đồng để bà trả nợ bà V, hụi này bà không biết ai làm chủ, sau này bà V thưa bà tại địa phương tôi mới biết hụi có 65 chân. Hụi bà nhờ bà V vô dùm bà đã đóng được 22 lần. Tại phiên toà, bà Nh đồng ý đối trừ số tiền 22 lần đưa tiền cho bà V đóng hụi là 6.600.000 đồng, bà đồng ý trả số tiền còn nợ lại bà V là 23.400.000 đồng. Đối với số tiền hụi bà V cho rằng có đóng dùm bà 2.070.000 đồng, bà không đồng ý trả do bà không biết việc này. Việc bà V rút lại yêu cầu đối với số tiền này bà Nh không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Bị đơn cư trú tại khóm 4, thị trấn Rạch G, huyện Ngh H theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ngh H, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết đúng theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa thể hiện: Từ 2018 đến năm 2020, bà Ngô Thị V có cho bà Nguyễn Thị Nh mượn tiền nhiều lần, tổng cộng số tiền vay vốn đến nay là 30.000.000 đồng, tới nay bà Nh chưa trả cho bà V số tiền nợ trên. Do bà Nh không có tiền trả, nên có nhờ V vô dùm 01 chân hụi 500.000 đồng; bà V nhờ người cháu là Trần Kim T tham gia dùm 01 chân hụi do bà Diệp Mỹ N làm chủ, dây hụi gồm 65 chân, bà Nh gởi tiền đóng tiền hụi được 22 lần thì không đóng nữa, bà V đã đóng dùm bà Nh 07 lần nữa với số tiền 2.070.000 đồng thì hụi bị đình lại.
Tại phiên toà, bà V và bà Nh Thống nhất số tiền bà Nh đã đóng 22 lần hụi là 6.600.000 đồng và thống nhất đối trừ vào số tiền vay, bà Nh đồng ý trả cho bà V số tiền vay còn lại là 23.400.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự Ngô Thị V và Nguyễn Thị Nh, buộc bà Nguyễn Thị Nh trả cho bà Ngô Thị V số tiền vay là 23.400.000 đồng, bà V không yêu cầu tính lãi nên không đặt ra xem xét.
Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn chậm trả khoản tiền trên cho nguyên đơn còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Đối với yêu cầu của bà Ngô Thị V buộc bà Nguyễn Thị Nh trả cho bà số tiền 07 lần bà V đóng hụi dùm bà Nh là 2.070.000 đồng. Tại phiên toà, bà V xin rút lại yêu cầu này. Hội đồng xét xử xét thấy, việc bà V rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 07 lần đóng hụi dùm bà Nh là 2.070.000 đồng là tự nguyện, không ai ép buộc nên đình chỉ yêu cầu này của bà Ngô Thị V theo quy định tại Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị đơn Nguyễn Thị Nh được miễn án phí, do bà Nh là người cao tuổi.
[4] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 164; Điều 166; Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 469; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa nguyên đơn Ngô Thị V và bị đơn Nguyễn Thị Nh. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Nh có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn bà Ngô Thị V số tiền 23.400.000 đồng. .
Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm trả khoản tiền trên cho nguyên đơn thì bị đơn còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị V yêu cầu bà Nguyễn Thị Nh trả số tiền 2.070.000 đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị đơn bà Nguyễn Thị Nh không phải chịu do bà Nh là người cao tuổi.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nguyên đơn không phải chịu. Nguyên đơn bà Ngô Thị V đã dự nộp số tiền 802.000 đồng theo biên lai thu số 0015xxx ngày 15/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngh H, bà V được nhận lại.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 37/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 37/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Ngọc Hiển - Cà Mau |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 05/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về