TOÀ ÁN ND HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
BẢN ÁN 35/2023/DS-ST NGÀY 31/10/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Trong ngày 31 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2023/DSST ngày 05 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXX - ST ngày 16 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964 Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965 Nơi cư trú: TDP Đ, thị trấn T, huyện S, Bắc Giang.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn N1, sinh năm 1981 Nơi cư trú: TDP Đ, thị trấn T, huyện S, Bắc Giang.
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1989 Nơi cư trú: Thôn K, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
(Ông C đã ủy quyền cho bà N đại diện tham gia tố tụng, bà N có mặt; ông N1, bà T có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Đơn khởi kiện, những lời khai tiếp theo có trong hồ sơ của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị N và tại phiên tòa bà N trình bày:
Ngày 28/01/2022, ông bà có cho ông Phạm Văn N1, bà Nguyễn Thị T vay số tiền là 400.000.000đ, lãi suất tự thỏa thuận và thời hạn vay là 01 năm; hai bên có viết giấy vay và cam kế ký nhận với nhau; ông N1, bà T có tín chấp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR398246 mang tên Hoàng Thị N2, Nguyễn Xuân X.
Quá trình vay ông N1, bà T đã trả được 40.000.000đ tiền lãi; khi đến hạn thanh toán ông, bà đã yêu cầu nhiều lần ông N1, bà T không trả tiền gốc vay và cố ý không muốn trả nợ.
Nay ông bà yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông N1, bà T phải trả cho ông bà số tiền 400.000.000đ gốc còn nợ, về tiền lãi ông bà không Có yêu cầu thêm. Ngoài ra ông bà không Có yêu cầu gì khác.
2. Bị đơn ông Phạm Văn N1, bà Nguyễn Thị T xác nhận 1 phần lời khai của nguyên đơn ông C, bà N tại biên bản ghi lời khai như sau:
Ngày 28/01/2022, ông bà có vay của ông C, bà N số tiền là 400.000.000đ, lãi suất tự thỏa thuận và thời hạn vay là 01 năm, hai bên có viết giấy vay và cam kế ký nhận với nhau; ông, bà có tín chấp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR398246 mang tên Hoàng Thị N2, Nguyễn Xuân X.
Quá trình vay ông N1, bà T đã trả được 40.000.000đ tiền lãi; khi đến hạn thanh toán ông C, bà N đã yêu cầu ông bà nhiều lần trả tiền gốc vay nhưng ông bà chưa có tiền trả. Nay ông bà nhất trí trả số tiền còn nợ cho ông C, bà N là 400.000.000đ; ngoài ra ông bà không có ý kiến gì khác.
3. Nhận xét của Viện kiểm sát đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:
Về Tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến kết thúc phần tranh luận chuyển vào nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị N đối với bị đơn ông Phạm Văn N1, bà Nguyễn Thị T.
Buộc ông Phạm Văn N1, bà Nguyễn Thị T phải liên đới trả cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị N số tiền là: 400.000.000đ; cụ thể ông N1 phải trả 200.000.000đ, bà T trả 200.000.000đ; về lãi suất do ông C, bà N không Có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về lãi suất Thi hành án: Thực hiện theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Về án phí: Ông Phạm Văn N1 phải chịu án phí DSST; Bà Nguyễn Thị T thuộc hộ cận nghèo và là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn tiền án phí DSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn C ủy quyền cho bà Nguyễn Thị N là người đại diện tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật cần được chấp nhận theo Điều 138 của Bộ luật Dân sự.
Bị đơn ông Phạm Văn N1, bà Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt theo khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông C, bà N khởi kiện ông N1, bà T tại Tòa án nhân dân huyện Sơn Động về việc ông N1, bà T vay tiền không trả; ông N1, bà T hiện đang cư trú tại huyện S. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động.
3. Về nội dung vụ án và đánh giá tài liệu, chứng cứ Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 28/01/2022, ông C, bà N có cho ông N1, bà T vay số tiền là 400.000.000đ, lãi suất tự thỏa thuận và thời hạn vay là 01 năm, hai bên có viết giấy vay và cam kế ký nhận với nhau; ông N1, bà T có tín chấp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 398246 mang tên Hoàng Thị N2, Nguyễn Xuân X.
Quá trình vay ông N1, bà T đã trả được 40.000.000đ tiền lãi, khi đến hạn thanh toán ông C, bà N đã yêu cầu ông N1, bà T nhiều lần trả tiền gốc vay nhưng ông N1, bà T chưa có tiền trả.
Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án ông N1, bà T thừa nhận có vay của ông C, bà N số tiền 400.000.000đ và đã trả được 40.000.000đ tiền lãi, tiền gốc vay chưa trả. Do đó, buộc ông Phạm Văn N1, bà Nguyễn Thị T phải trả cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị N số tiền là: 400.000.000đ. Do ông nam, bà T đã được Tòa án giải quyết cho ly hôn tháng 8/2023 nên ông N1, bà T mỗi người phải có trách nhiệm trả 1/2, cụ thể: Ông N1 phải trả 200.000.000đ, bà T trả 200.000.000đ; về lãi suất do ông C, bà N không Có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về lãi suất Thi hành án: Do các bên không tự thỏa thuận được nên thực hiện theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bên bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí DSST. Ông Phạm Văn N1 phải chịu án phí DSS; Bà Nguyễn Thị T thuộc hộ cận nghèo và là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn tiền án phí DSST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; 35; 144, 147, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 463, 466 và 470 Bộ luật Dân sự. Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị N đối với bị đơn ông Phạm Văn N1, bà Nguyễn Thị T.
2. Buộc ông Phạm Văn N1, bà Nguyễn Thị T phải liên đới trả cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị N số tiền là: 400.000.000đ; cụ thể ông N1 phải trả 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng), bà T phải trả 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng).
Về lãi suất Thi hành án: Thực hiện theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí: Ông Phạm Văn N1 phải chịu 10.000.000đ tiền án phí DSST; bà Nguyễn Thị T được miễn tiền án phí DSST.
Án xử sơ thẩm; báo cho đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án; các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật Thi hành án dân sự./.
Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 35/2023/DS-ST
| Số hiệu: | 35/2023/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Sơn Động - Bắc Giang |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 31/10/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về