Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 331/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 331/2024/DS-ST NGÀY 16/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 418/2024/TLST–DS ngày 10/7/2024 về tranh chấp “Hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 599/2024/QĐXXST-DS ngày 06/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 574/2024/QĐST-DS ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH P1. Địa chỉ: Ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu P, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên. Có mặt

2. Bị đơn: Bà Võ Vân A, sinh năm 1984. Nơi cư trú: số F, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1983. Nơi cư trú: khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 05/4/2024 cùng lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Công ty TNHH P1 (gọi tắt là Công ty P1) và bà Võ Vân A có ký hợp đồng cầm cố kiêm giấy nhận nợ số 21036/HĐCC-GNN ngày 15/10/2021 và ông Nguyễn Ngọc N ký vào hợp đồng với tư cách liên đới trách nhiệm trả nợ với bà Vân A để thỏa thuận vay số tiền 17.000.000 đồng, thời hạn vay 360 ngày (từ ngày 15/10/2021 đến ngày 10/10/2022), lãi suất cho vay 3.0%/tháng; lãi suất quá hạn 4,5%/tháng, bên vay phải trả gốc, lãi theo định kỳ hàng tháng, kể từ ngày 15/10/2021. Để bảo đảm khoản vay, bà Vân A có cầm cố tài sản cho Công ty P1 01 xe gắn máy biển số 67B2–X kèm giấy chứng nhận đăng ký xe số 118221 do Phòng C Công an tỉnh A cấp ngày 27/8/2019. Tuy nhiên, cùng ngày ký hợp đồng nêu trên, bà Vân A, ông N có giấy đề nghị cho mượn lại xe để sử dụng và được Công ty P1 chấp nhận. Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 12/4/2022, bà Vân A đã trả cho Công ty tiền vay được 8.500.000 đồng, tiền lãi 3.060.000 đồng thì ngưng cho đến nay, không thực hiện việc trả nợ theo thỏa thuận nên Công ty khởi kiện yêu cầu bà Vân A, ông N phải có trách nhiệm liên đới trả cho Công ty P1 tổng số tiền 11.560.000 đồng, trong đó tiền vốn là 8.500.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 13/4/2022 đến ngày 10/10/2022 là 3.060.000 đồng. Trường hợp bên vay thanh toán xong nợ thì Công ty P1 sẽ trả lại bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 118221 của Phòng C Công an tỉnh A cấp ngày 27/8/2019.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt trong quá trình tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn Công ty P1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đồng thời nguyên đơn xác định lại yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật từ ngày 13/4/2022 đến ngày 10/10/2022, không yêu cầu tính lãi tiếp theo ngày 10/10/2022 đến ngày xét xử xong. Trường hợp bên vay thanh toán xong khoản vay thì Công ty P1 sẽ trả lại bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 118221 của Phòng C Công an tỉnh A cấp ngày 27/8/2019.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” và “Hợp đồng cầm cố tài sản” thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhận được các văn bản tố tụng do Tòa án cấp tống đạt nhưng vắng mặt trong thời gian chuẩn bị xét xử và lần thứ hai tại phiên tòa, không lý do. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung tranh chấp [2.1] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Ngày 15/10/2021, bà Võ Vân A và ông Nguyễn Ngọc N có thỏa thuận ký kết hợp đồng cầm cố kiêm giấy nhận nợ số 21036/HĐCC-GNN với Công ty P1 để vay số tiền 17.000.000 đồng, thời hạn vay là 360 ngày (từ ngày 15/10/2021 đến ngày 10/10/2022), lãi suất 3.0%/tháng, lãi quá hạn là 4,5%/tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Vân A trả gốc, lãi được 11.560.000 đồng thì ngưng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng từ ngày 13/4/2022, làm ảnh hưởng đến quyền lợi về tài sản của Công ty P1. Do đó, Công ty P1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Vân A và ông N phải có trách nhiệm liên đới trả nợ là có căn cứ, phù hợp quy định tại các Điều 288, Điều 463, Điều 466, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

[2.2] Đối với yêu cầu tính lãi trên tiền vay từ ngày 13/4/2022 đến ngày 10/10/2022. Xét thấy, tại hợp đồng cầm cố kiêm giấy nhận nợ ngày 15/10/2021, các bên thỏa thuận lãi suất 3.0%/tháng, thỏa thuận này vượt quá 20%/năm theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 nên Công ty P1 yêu cầu điều chỉnh lãi theo quy định pháp luật là phù hợp. Như vậy, bà Vân A, ông N phải liên đới nghĩa vụ trả lãi cho Công ty P1 là 05 tháng 27 ngày x số tiền vay 8.500.000 đồng x 20%/năm (1,66%/tháng) = 832.489 đồng. Tổng số tiền vốn, lãi bà Vân A, ông N phải liên đới trách nhiệm trả cho Công ty P1 là 9.332.489 đồng.

[2.3] Đối với việc cầm cố tài sản là xe mô tô, xe máy biển số 67B2-X kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe để đảm bảo khoản vay của bà Vân A. Xét thấy, hợp đồng cầm cố kiêm biên nhận nợ được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, có hiệu lực từ thời điểm giao kết và bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố. Tuy nhiên, Công ty P1 cho bên vay mượn lại xe để sử dụng theo giấy đề nghị, hiện Công ty P1 chỉ giữ giấy chứng nhận đăng ký xe và đồng ý trả lại khi bà Vân A, ông N thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ là căn cứ theo quy định tại Điều 309, Điều 310, Điều 315 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, Căn cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 288, Điều 309, Điều 310, Điều 315, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015;

Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của HĐTP TANDTC; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH P1.

Buộc bà Võ Vân A và ông Nguyễn Ngọc N phải liên lới trách nhiệm trả cho Công ty TNHH P1 số tiền 9.332.489 đồng, trong đó tiền vay là 8.500.000 đồng, tiền lãi là 832.489 đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Công ty TNHH P1 phải có trách nhiệm trả lại cho bà Võ Vân A bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 118221 của Phòng C Công an tỉnh A cấp ngày 27/8/2019, khi bà Võ Vân A, ông Nguyễn Ngọc N thanh toán xong nợ.

[2] Về án phí sơ thẩm Bà Võ Vân A và ông Nguyễn Ngọc N phải liên đới nộp 466.624 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho nguyên đơn Công ty TNHH P1 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002344 ngày 10/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L.

[3] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Giải thích Điều 26 Luật Thi hành án dân sự)

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

107
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 331/2024/DS-ST

Số hiệu:331/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về