Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 266/2024/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 266/2024/DS-PT NGÀY 19/06/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Trong các ngày 18 và 19 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 85/2024/TLPTDS ngày 04 tháng 4 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS - ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ bị bị đơn kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 192/2024/QĐ-PT-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1976; địa chỉ: E N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

1. Bà Trương Mỹ P, sinh năm 1997; (có mặt)

2. Bà Lê Thị Tường O, sinh năm 1999; (có mặt) Cùng địa chỉ: I đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn:

2.1 Ông Trần Hoàng V, sinh năm 1977; (vắng mặt)

2.2 Bà Đinh Thị Thùy L, sinh năm 1982; (vắng mặt) Cùng địa chỉ: D N, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.

Đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Lâm Văn K, sinh năm 1980; địa chỉ: 1 KDC M đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

3. Người kháng cáo: ông Trần Hoàng V và bà Đinh Thị Thùy L là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trình bày của đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn thì: Ngày 23/11/2020 ông Nguyễn Quốc D có cho vợ chồng ông Trần Hoàng V và bà Đinh Thị Thùy L mượn số tiền 250.000.000 đồng, hai bên có lập hợp đồng mượn tiền có công chứng tại Văn phòng công chứng Ngô Công Quốc T, việc cho mượn này không tính lãi. Thời hạn ông D cho vợ chồng ông V, bà L mượn là 01 tháng tính từ ngày 23/11/2020 đến hết ngày 22/12/2020. Hết thời hạn mượn tiền nêu trên, đến nay đã hơn 02 năm nhưng ông V, bà L không trả tiền cho ông D mặc dù ông D đã nhiều lần gọi điện nhắc nhở. Việc ông V, bà L không trả tiền cho ông D đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông D được pháp luật bảo vệ. Do đó, ông D yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều giải quyết các vấn đề sau: 1/ Buộc ông Trần Hoàng V và bà Đinh Thị Thùy L thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) căn cứ theo Hợp đồng mượn tiền ngày 23/11/2020. 2/ Yêu cầu ông Trần Hoàng V và bà Đinh Thị Thùy L thanh toán tiền lãi chậm trả đối với số nợ 250.000.000 đồng (lãi chậm trả tính từ 23/12/2020 đến khi xét xử) với lãi suất 10%/năm, tạm tính tiền lãi là: 76.000.000 đồng.

Ý kiến của bị đơn ông V và bà L: Trong quá trình tòa án thụ lý giải quyết vụ kiện, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do; không cung cấp chứng cứ, cũng như không có văn bản thể hiện ý kiến thống nhất hay không thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 11/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc D đối với bị đơn là ông Trần Hoàng V và bà Đinh Thị Thùy L. Tuyên bố:

- Buộc bị đơn ông Trần Hoàng V và bà Đinh Thị Thùy L phải trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Quốc D tổng số tiền 326.000.000 đồng (ba trăm hai mươi sáu triệu đồng)

- Tiền gốc là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng)

- Lãi suất phát sinh là 76.000.000 đồng (bảy mươi sáu triệu đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm; quyền kháng cáo; quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.

Bản án trên đã bị bị đơn kháng cáo, theo đơn kháng cáo bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử áp dụng thời hiệu khởi kiện. Ngoài ra, đề nghị làm rõ có người làm chứng cho việc giao nhận tiền giữa nguyên đơn và bị đơn hay không vì trong quá trình giải quyết vụ án lời trình bày của phía nguyên đơn không thống nhất. Khi thì nói có công chứng viên Ngô Công Quốc T khi thì nói cả công chứng viên Ngô Công Quốc T và 01 nhân viên của Văn phòng công chứng chứng kiến.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện bị đơn, rút một phần kháng cáo về việc yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Phía bị đơn có cung cấp 01 bản án dân sự sơ thẩm số 101/2022/DS-ST ngày 21/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Đại diện của nguyên đơn trình bày, đối với chứng cứ bị đơn cung cấp tại phiên tòa cho thấy quan hệ pháp luật tranh chấp là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đối tượng tranh chấp trong vụ án này là bất động sản nên việc xác định phương thức thanh toán sẽ khác so với tranh chấp về hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn với bị đơn, có đối tượng tranh chấp là động sản. Mặt khác, phía nguyên đơn xác định việc giao nhận tiền vay diễn ra ở Văn phòng công chứng, các bên tự thực hiện với nhau không có người làm chứng. Đồng thời, hợp đồng vay tiền là chứng cứ trực tiếp thể hiện có việc vay mượn tiền giữa nguyên đơn với bị đơn.

Đại diện ủy quyền của bị đơn trình bày: Đối với bản án do bị đơn cung cấp có quan hệ pháp luật tranh chấp khác với vụ án hiện tại nhưng phương thức thanh toán là tình huống tương tự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng. Mặt khác, lời khai nhận về việc có người làm chứng giao nhận tiền của phía nguyên đơn không thống nhất cũng như nguyên đơn chưa chứng minh được đã giao tiền vay cho bị đơn. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm Chủ tọa, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

- Về hình thức kháng cáo: Các bị đơn kháng cáo trong hạn luật định và thuộc trường hợp nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên hợp lệ về mặt hình thức.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện vào ngày 23/11/2020 giữa nguyên đơn và bị đơn có làm hợp đồng mượn tiền có công chứng và chứng thực tại văn phòng công chứng Ngô Công Quốc T với số tiền 250.000.000 đồng. Thời hạn mượn tiền là 30 ngày kể từ ngày 23/11/2020 đến ngày 22/12/2020. Hết thời gian trên phía bị đơn ông V và bà Thùy L không trả nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng bị đơn trả số tiền gốc là 250.000.000 đồng; Lãi suất phát sinh tạm tính từ ngày 23/12/2020 đến khi xét xử) với lãi suất 10%/năm là 76.360.000 đồng, tuy nhiên nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán lại 76.000.000 đồng. Tổng số tiền yêu cầu bị đơn trả lại 326.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền trên là phù hợp theo quy định tại Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao quy định “Hợp đồng vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ theo yêu cầu của bên cho vay, Tòa án xác định bên vay phải trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ tương ứng với thời gian chậm trả nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Như vậy việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn thanh toán gốc và lãi chậm trả theo khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 là đúng quy định.

Đối với kháng cáo của bị đơn cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện, tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay đại diện ủy quyền của bị đơn rút lại đối với yêu cầu này nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu xem xét lại thời hiệu khởi kiện. Đối với việc bị đơn cho rằng có ký tên vào hợp đồng mượn tiền nhưng chưa nhận tiền, như cấp sơ thẩm nhận định việc nhận tiền của các bên được thể hiện tại khoản 1 của hợp đồng là "ngay khi hai bên cùng ký tên vào hợp đồng này". Bị đơn không cung cấp được chứng cứ là không nhận tiền và không yêu cầu hủy bỏ hợp đồng mượn tiền nếu như cho rằng mình chưa nhận tiền, nhưng đến khi nguyên đơn khởi kiện thì bị đơn lại phủ nhận cho rằng mình không nhận tiền nên không đồng ý trả là không phù hợp, nên kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ theo hướng không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu áp dụng thời hiệu của các bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn: Theo đơn kháng cáo và lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của bị đơn xác định, bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2] Theo đơn kháng cáo, bị đơn cho rằng hợp đồng vay tiền giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận thời gian vay tiền là 30 ngày kể từ ngày 23/11/2020 đến ngày 23/12/2020. Sau ngày 23/12/2020 là 02 bên phát sinh tranh chấp. Đến ngày 02/10/2023 nguyên đơn mới khởi kiện như vậy thời hiệu khởi kiện đã hết nên đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu. Tại phiên tòa, đại diện bị đơn rút yêu cầu kháng cáo này, nhận thấy đây là ý chí tự nguyện của phía bị đơn nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 289 đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo đề nghị áp dụng thời hiệu khởi kiện của các bị đơn.

[3] Đối với yêu cầu của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử làm rõ ai là người chứng kiến việc giao tiền của nguyên đơn, là công chứng viên Ngô Quốc T hay cả công chứng viên Ngô Quốc T và 01 nhân viên của Văn phòng công chứng vì lời trình bày của phía nguyên đơn không thống nhất. Nhận thấy, tại phiên tòa phía nguyên đơn thừa nhận, việc giao nhận tiền là diễn ra ở Văn phòng công chứng và các bên tự thực hiện với nhau, không có người làm chứng. Tại Biên bản xác minh ngày 17/6//2024 của Tòa án tại Văn phòng Công chứng viên Ngô Công Quốc T xác nhận, Văn phòng có công chứng Hợp đồng mượn tiền giữa ông Nguyễn Quốc D với ông Trần Hoàng V và bà Đinh Thị Thùy L, việc giao nhận tiền do các bên tự thực hiện với nhau. Đồng thời, Hợp đồng mượn tiền 23/11/2020 chỉ có Công chứng viên và hai bên mượn, cho mượn tiền ký, không có người làm chứng. Do đó, có cơ sở xác định “Hợp đồng mượn tiền 23/11/2020” giữa ông Nguyễn Quốc D với ông Trần Hoàng V và bà Đinh Thị Thùy L không có người làm chứng. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc có hay không có giao nhận tiền giữa các bên. Bởi, theo Điều 2 của Hợp đồng mượn tiền, có thỏa thuận thời hạn, phương thức cho mượn tiền, cụ thể “Bên A bàn giao cho bên B toàn bộ số tiền cho mượn nêu trên tại Điều 1 trong hợp đồng này vào thời điểm: “ngay sau khi hai bên cùng ký tên vào hợp đồng này”. Tại phiên tòa, đại diện của bị đơn cũng thừa nhận, bị đơn trước khi ký hợp đồng bị đơn đã đọc nội dung và biết nội dung này, đồng thời cũng biết là sau khi ký thì hợp đồng có hiệu lực thi hành. Điều này, đồng nghĩa với việc bị đơn thừa nhận toàn bộ số tiền thỏa thuận trong hợp đồng đã được giao cho bị đơn. Mặt khác, sau khi ký hợp đồng trường hợp nguyên đơn không giao tiền cho bị đơn là ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối nào cũng không có yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu do nguyên đơn chưa thực hiện nghĩa vụ.

[4] Đối với bản án dân sự sơ thẩm số 101/2022/DS - ST ngày 21/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Xét thấy, bản án bị đơn cung cấp là bản án có kháng cáo. Mặt khác, bản án này có quan hệ pháp luật, đối tượng tranh chấp và các tình huống pháp lý khác so với vụ án đang giải quyết. Do đó, không thể xem tình huống trong vụ án của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai để áp dụng tương tự trong vụ án này;

[5] Từ những nhận định trên cho thấy, bị đơn cho rằng chưa nhận tiền mượn theo hợp đồng mượn tiền với nguyên đơn là không có cơ sở nên yêu cầu kháng cáo của các bị đơn không được chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm, đã tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc các bị đơn trả tiền nợ gốc và lãi là có căn cứ nên giữ nguyên bản án sơ thẩm;

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận;

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Hoàng V, bà Đinh Thị Thùy L mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ông V, bà L được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000882 ngày 31/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành án phí. Ông V và bà L mỗi người còn phải nộp thêm 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị đơn ông Trần Hoàng V, bà Đinh Thị Thùy L; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện của các bị đơn ông Trần Hoàng V, bà Đinh Thị Thùy L.

2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 11/2024/DS- ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc D đối với các bị đơn là ông Trần Hoàng V và bà Đinh Thị Thùy L.

2.2 Buộc bị đơn ông Trần Hoàng V và bà Đinh Thị Thùy L phải trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Quốc D tổng số tiền 326.000.000 đồng (ba trăm hai mươi sáu triệu đồng).

- Tiền gốc là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng);

- Lãi suất phát sinh là 76.000.000 đồng (bảy mươi sáu triệu đồng). Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

3. Về án phí dân sự:

3.1 Án phí dân sự sơ thẩm các bị đơn phải chịu 16.300.000 đồng (mười sáu triệu ba trăm nghìn đồng). Nguyên đơn được nhận lại số tiền 7.812.500 đồng (bảy triệu tám trăm mười hai nghìn năm trăm đồng) đã tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001370 ngày 21/7/2023 của Chi cục Thi hành án quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

3.2 Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Hoàng V, bà Đinh Thị Thùy L mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ông V, bà L được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000882 ngày 31/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành án phí. Ông V và bà L mỗi người còn phải nộp thêm 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

63
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 266/2024/DS-PT

Số hiệu:266/2024/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cần Thơ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/06/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về